"Tôi trước tác là để phổ biến tâm thuật chứ không phải để kiếm danh lợi." THÁI DOÃN HIỂU

TRƯỚC TÁC KHOA HỌC

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011 0 nhận xét

Tưởng niệm nhân  229 năm ngày sinh nhà bác học Phan Huy Chú:


TRƯỚC TÁC KHOA HỌC
ĐỂ MỘT ĐỜI HIỂU THẤU MUÔN ĐỜI


THÁI DOÃN HIỂU


Năng lượng khoa học mà Phan Huy Chú gửi vào bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí là khuynh hướng tư tưởng duy lý, phương pháp tư biện phân tích, phân loại, tổng hợp một cách nhất quán, hệ thống logic, tạo nên được một sản phẩm văn hóa khổng lồ, đột phá, vượt quá xa thời phong kiến trung cổ của văn minh… nông nghiệp. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chính Phan chứ không ai khác là người tiên phong khai sáng cho sự tiến triển của văn hóa nước nhà từ cổ đại sang hiện đại.

*


Phan Huy Chú (1782-1840) là nhà thơ, nhà bác học lỗi lạc của thế kỷ XIX.

Phan Huy Chú tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong. Quê quán của ông ở xã Thụy Khê, tục gọi làng Thày, một vùng quê có thắng tích Sài Sơn ở Hà Tây. Quê gốc - họ Phan Huy của ông hiện  nay vẫn là một dòng họ lớn có truyền thống khoa bảng ở xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Gốc gác xa xưa của họ nổi tiếng về nghề ca xướng.

Phan xuất thân trong một gia đình trí thức có tầm cỡ với những tên tuổi đáng nể trọng : Phan Huy Cận (ông nội), Ngô Thì Sĩ (ông ngoai), Phan Huy Ích (cha), Ngô Thời Nhiệm (bác – anh mẹ), Ngô Thì Vị (cậu), Phan Huy Ôn (chú), Phan Huy Sáng (chú), bà Ngô Thị Thục (mẹ) là người có học, rồi vợ ông (con gái danh y, quan thượng thư, tiến sĩ Nguyễn Thế Lịch tức Nguyễn Gia Phan)… Gen di truyền, sự kế thừa và môi trường ấy đã nâng đỡ, tơ trời vấn vít tạo nên tài năng, học vấn cho Phan. Vốn thông minh, lại được các thành viên trong gia đình rèn cặp nên Phan học rất giỏi, nổi tiếng uyên bác cả vùng Sài Sơn.

Phan sống trong gai góc vây bủa thời tráng niên của mình là một hàng rào lý lịch khá đặc biệt nguy hiểm : nội thân ngoại thích của ông đều là trụ cột của Tây Sơn - kẻ tử thù của nhà Nguyễn vừa bị họ đánh đổ, trả thù khốc liệt, hèn mạt. Con đường thi thố tài năng bằng hoạn lộ thật mịt mờ. Sau vài phen thử vận may vào năm 1807 và 1819, không vượt khỏi tú tài vì bị kỳ thị, ông Kép Thày  (dân làng nể trọng gọi thế) đành chuyển sang con đường trước thuật  với tất cả năng lực được tu luyện khá kỹ càng cùng chí hướng nung nấu của một trí thức tự do. Ròng rã 10 năm trời từ tuổi 27 (1809) đến tuổi 37 (1819), Phan dựng nhà trong núi, “đóng cửa tạ khách” (đóng cửa không tiếp khách) để làm sách. Sống giữa một thiên nhiên u nhã với bạt ngàn sách vở tàng trữ được bao đời trong kho thư tích gia bảo của gia đình, Phan đã chịu đói lạnh dùi mài nghiên cứu, tổng kết được mọi điển chương, thâu tóm được mọi tinh túy học vấn dân tộc của những người đi trước, soạn ra bộ bách khoa sử học đồ sộ Lịch triều hiến chương loại chí.

Năng lượng khoa học mà Phan gửi vào bộ sách là khuynh hướng tư tưởng duy lý, phương pháp tư biện phân tích, phân loại, tổng hợp một cách nhất quán, hệ thống logic, tạo nên được một sản phẩm văn hóa khổng lồ, đột phá, vượt quá xa thời phong kiến trung cổ của văn minh… nông nghiệp. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chính Phan chứ không ai khác là người tiên phong khai sáng cho sự tiến triển của văn hóa nước nhà từ cổ đại sang hiện đại.

Dẫu không có chân trong đám đại khoa nhưng tiếng thơm của Phan vẫn bay xa. Vua Minh Mệnh nghe tin đồn xuống chiếu triệu ông vào Huế cho giữ chức Hàn lâm viện biên tu (1821), sung đoàn sứ bộ đi sứ nhà Thanh (1828), thăng Hiệp trấn Quảng Nam (1829). Sau đó Phan bị giáng. Năm 1831, lại được cử đi sứ Trung Quốc lần hai, khi về bị cách tuột vì bị ghép tội lộng hành. Năm 1832, lại bị Minh Mạng bắt đi tiền quân hiệu lực ở Inđônêxia về công thương buôn bán.. Xong việc, Phan được khôi phục với chức vụ Tư vụ bộ Công. Trên thực tế, Minh mạng cũng muốn dùng Phan nhưng không thể ưu ái, tin cậy được bọn cừu gia đệ tử. Bản thân Phan cũng vậy, làm sao ông có thể yêu quý cái triều đình đã nọc cổ cha và bác ông đánh tóe máu, một người mang đầy thương tích, một người tử thương giữa Văn Miếu ? Phan không phạm lỗi sao được khi tài năng và đức thương dân của ông vượt ra khỏi trí não lôi long hẹp hòi, bảo thủ của bọn hủ nho già (1)

Có lẽ đến đây, trên mười năm “tha hóa” (chữ dùng của nhà sứ học Lê Văn Lan) làm quan chức hành chánh triều nhà Nguyễn, Phan đã  lợm mùi khổ nhục thăng giáng nơi quan trường, lấy cớ đau yếu xin cáo quan về nghỉ, mở trường dạy học ở Thanh Mai, rồi mất ở đó. Mộ ông hiện nay còn táng tại ở xã Vân Thắng, huyện Ba Vì, Hà Nội.

Ngoài bộ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú còn để lại : Hoàng Việt địa dư ký: sách viết về địa lý nước ta dưới triều Nguyễn; Hoa thiều ngâm lục là tập thơ Phan đi sứ Trung Quốc lần thứ nhất (1825) gồm: quyển thượng có một bài tựa, 161 bài thơ, 3 bài phú, quyển hạ  có 114 bài thơ, 1 bài phú và 8 bài từ; Hoa trình tập ngâm là tập thơ Phan đi sứ Trung Quốc lần thứ hai (1831) gồm 127 bài thơ; Dương trình ký kiến (ghi chép những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc hành trình trên biển) khi Phan đi tiền quân hiệu lực sang Inđônêxia (1832), tác phẩm này bị mất nay chưa tìm thấy; Nam trình tạp ngâm tập thơ 36 bài (bị mất); Tiến Ngọc phả biểu là cuốn gia phả nhà Nguyễn do Phan và một người khác soạn dâng Minh Mệnh.

*

Lịch triều loại chí là công trình lớn nhất làm cho tên tuổi của Phan sống  mãi. Toàn bộ trí tuệ, tài năng, sự đam mê khoa học, ý chí lao động Phan dồn hết cho công trình này. Nó là sự kết tinh một tình yêu lớn đối với lịch sử và văn hóa của dân tộc.

Trong lời tựa của tác phẩm, Phan đã kể về công việc của mình:

“Nước Nam từ Triệu, Đinh, Lê, Lý, trần, phong hội đã mở, đời nào cũng có chế độ của thời ấy. Đến thời nhà Lê kiến thiết kỹ càng, phép tắc đầy đủ, thanh danh của nước và văn hóa, nhân tài đều thịnh không kém gì Trung Hoa…

Duy điển lễ của các triều trước chưa có sách sẵn. Trong quốc sử biên chép công việc hàng năm về điển lễ còn sơ lược nhiều. Huống chi từ năm Bính Ngọ (1786) xẩy ra việc binh đao đến giờ, sách cũ tan nát, chỉ còn lại một  ít của các cố gia thế tộc cất giấu đi. Các sách nát, vở cũ còn lại biên chép lẫn lộn sai lầm chưa lần ra đầu mối, có bàn về điển cố các triều thì lờ mờ không bằng cớ vào đâu. Vậy thì, chép lấy những điều mắt thấy tai nghe, chia ra từng việc, từng loại để làm một quyển có khuôn phép há chẳng phải là nhiệm vụ của nhà học giả ư ?

Tôi từ nhỏ đi học vẫn thường có chí ấy. May nhờ sách vở của mấy đời để lại và sự dạy dỗ của gia đình nên về điển chương gọi là có biết qua đầu  mối, nhưng hiềm vì sứ sách tản mát chưa kịp sửa chép. Từ khi vào núi đến giờ, mới đóng của tạ khách cố sức tìm nhặt, sau khi đọc sách được nhàn rỗi, thì lại tùy từng loại khảo xét và đính chính, có khi nghĩ được điều gì thì làm ra lời bàn. Ngày tháng góp lại đến nay đã trải 10 năm, biên chép đã xong”…

Lịch triều hiến chương loại chí tất cả có 10 chí, 49 quyển ghi chép 10 bộ môn được phân loại, nghiên cứu, theo trình tự:

1- Dư địa chí: nghiên cứu sự thay đổi về lãnh thỗ bờ cõi qua các thời đại.
2- Nhân vật chí: kể về hành trạng cá vua chúa, những nhân vật  như danh tường, hiền sĩ có công tích đối với các triều đại.
3- Quan chức chí: việc đặt quan chức và thay đổi quan chức các triều đâi, chế độ phâ phát bổng lộc, chế độ bổ dụng người làm qua.
4- Lễ nghi chí: những quy định về y phục, mũ miện, xe cộ của vua chúa, các phong tục thờ cúng, tang ma, cưới hỏi.
5- Khoa mục chí: phép tắc thi cử, thể lệ các kỳ thi, học vị học chế các đời.
6- Quốc dụng chí : sổ hộ khẩu, phép thu thuế, đánh thuế hàng hoá, tiền tệ, chế độ ruộng đất…
7- Hình luật chí: khái quát về luật lệ, luật pháp các đời.
8- Binh chế chí: việc tổ chức quân đội, chế độ quân lương, quân trang, quân dụng, phép thi võ.
9- Văn tịch chí: nói về sách vở, văn hóa, văn học các thời.
10- Bang giao chí: thể chế ngoại giao, nghi lễ đón tiếp các sứ thần các nước.

Đó là toàn bộ lịch sử văn hiến của một dân tộc chứa đựng trong bộ sách bách khoa toàn thư với chiều rộng và bề sâu 10 khoa học thiết yếu của một quốc gia. Thực chất công việc nghiên cứu của Phan là tỉ mẩn làm công việc phân loại, hệ thống và đánh giá các tri thức. Với cốt cách sáng suốt, sành sỏi, bao quát, tường tận với tính chính xác của tư liệu, sự tôn trọng sự thực khách quan, Phan Huy Chú đã vững vàng đóng các vai nhà sử học, nhà địa lý, nhà luật học, nhà kinh tế học, nhà giáo dục, nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà thư tịch học, nhà nghiên cứu và phê bình văn học… Lĩnh vục nào Phan cũng tỏ ra uyên thâm, chứa đựng nhiều tư tưởng tiến bộ, thể hiện tinh thần dân tộc độc lập và bản lĩnh học thuật cao cường của cá nhân Phan cũng như tinh hoa của các thế hệ. Sau 177 năm từ khi Lịch triều hiến chương loại chí ra đời, liệu có ai đó ở nước ta dám làm một công trình quy mô như ông “tú quèn” họ Phan này chăng ?

Tính mục đích của Lịch triều hiến chương loại chí nằm ngay trong tên gọi của nó: hãy giữ vững và làm theo pháp chế, điển chế của các đời. Rõ ràng sách là đối tượng nghiên cứu phổ biến tâm thuật trọng yếu của nhà bác học, ông nghĩ: “Cái tinh vi của  lòng nghĩ ngợi lo toan, đều gửi gắm trong văn chương để hiếu thấu đường đời. Văn minh của  loài người đều chứa trong sách” (Tựa Văn tịch chí).

Cùng với tập ký Vân đài loại ngữ của nhà bác học Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí là một trước tác khoa học chặt chẽ, khuôn mẫu để “người đọc một đời hiểu thấu muôn đời”.

Khi bộ Lịch triều hiến chương loại chí dâng lên,  vua Minh Mạng thưởng cho Phan 30 lạng bạc, 1 chiếc áo sa, 30 ngòi bút lông, 30 thỏi mực. Chút nhuận bút hương hoa bạc bẽo cho mười năm lao động khoa học với công trình không ai sánh nổi đã không làm cho Phan buồn tủi, trái lại làm ông vui sướng vì bao điều tâm huyết của nhà học giả kiêm nghệ sĩ gửi gắm trong đó đã được khắc in và phổ biến.



----------------------
(1) Sách Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ chép : Vào năm Minh Mệnh thứ tư (1823) “Lang trung bộ Lại Phan Huy Chú dâng sớ điều trần bốn việc, nói nhiều điều viển vông, bậy bạ, không thiết thực việc đời. Vua xem cười bảo rằng “Chú cầu tiến thân mong được hợp ý như bọn Mao Toại tự tiến vậy”, rồi trả lại sớ”.

NGÔ NGHÊ NGỐ NGHỆ

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2011 0 nhận xét

NGÔ NGHÊ NGỐ NGHỆ, NGỘ, NGHI NGỜ

Phiếm đàm của THÁI DOÃN MẠI



Có những điều quen thuộc với mọi người mà mình không hiểu gọi là ngố. Ngộ có nhiều nghĩa: là gặp (hội ngộ), là sai lầm (ngộ nhận) là hiểu ra (diệu ngộ) là trái ngược (ngộ ngược). Có lẽ nhiều người phải trải qua như thế. Sợ bị người đời chê là dốt nát, tôi đành ghi cái ngố của mình vào nhật kí để “ một mình mình biết một mình mình hay”.

        Hôm qua làm cái đơn, dòng đầu là CH XHCN VN, quốc hiệu này làm tôi nhớ tới quốc hiệu 1945 VN DC CH. Điều này làm tôi ngờ ngợ vị trí của danh từ riêng VN. Ngố Nghệ tự lí giải: quốc hiệu 45, VN là trung tâm ngữ, DC,CH (tính từ) làm định ngữ. Vậy cụm từ VN DC CH được sắp xếp theo trật tự cú pháp nước Nam ta. Suy rộng ra , quốc hiệu 76 CH XHCN VN được sắp đặt theo cú pháp Tầu chăng ? Vua Minh Mạng đặt quốc hiệu Đại Nam thì chắc chắn thuận theo cú pháp Tàu là nhẽ dễ hiểu. Học tập Bác Hồ tôi muốn dân tộc hóa quốc hiệu nước mình : VN XHCN CH . Ôi, nghe mà nghịch cái lỗ nhĩ, phải chăng ta quen tai đi rồi !

       Trong các đại lễ, quốc thiều VN vang lên thật hùng tráng. Nghe nói ban đầu Tiến Quân Ca (ra đời trong hoàn cảnh phát xít thực dân hoành hành) có ca từ : “thề phanh thây uống máu quân thù”…, sau này được sửa lại : “thề vì Dân chiến đấu không ngừng”… nghe nhân văn  mà vẫn hào sảng. Nay trộm nghĩ trong quốc ca có câu : “Đường vinh quang XÂY XÁC quân thù nghe ra có mùi hiếu sát”. Nghĩ rằng Nguyễn Trãi đánh quân Minh nhưng vẫn sẵn mở đường hiếu sinh, Bác Hồ những ngày căng thẳng cuối năm 1946 vẫn tính đường nhân nhượng, để Pháp, Việt không đổ máu. Mạo muội tôi đề xuất ca từ thay thế: “Đường vinh quang thấm máu anh hùng”, để tôn vinh ý chí quật cường cả một dân tộc anh hùng, tránh cái hành vi trả thù Cám  của Cô Tấm dịu hiền trong cổ tích.

       Có người lấy thơ phổ nhạc, tôi mơ ước lấy thơ “phổ họa”, nếu tôi có tài như Cù Huy Hà Vũ, tôi sẽ vẽ 2 bức thủy mặc lấy đề tài từ 2 bài thơ nổi tiếng : Thiên Trường vãn vọng của vua Trần Nhân Tông và Nguyên Tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh).Hai bài thơ vẽ ra cái không gian (gần như tịnh) của một buổi chiều ở đồng bằng Nam Định, của một đêm trăng êm đềm ở núi rừng Việt Bắc …cánh cò trắng cứ mãi dập dờn trong tâm trí ta , ánh trăng rằm cùng nước thượng nguồn sông Đà mãi tắm mát tâm hồn ta. Ở bài Nguyên Tiêu, nếu thay từ “quân sự” bằng từ “thời vụ” thì dễ ngộ nhận hai tác giả là hai Thiền sư Thi sĩ (hoặc là 2 Ẩn giả Thi sĩ) , thực ra đây là 2 Người Lính. .. Thi sĩ đã gác bỏ mọi thế sự , thành bại, sinh tử…Thiên nhiên an bình của bậc Đạo Sư liễu ngộ với cái thơ ngây trong sáng của trẻ thơ. Bức thủy mặc thứ 2 thế nào cũng có núi (sơn) , nhưng ở nguyên tác lại không có núi, tôi bèn cải đi cho riêng mình: Xuân sơn, xuân thủy tiếp xuân thiên. Trộm nghĩ vắng chữ “giang”  thì đã sẵn có chữ “thủy” liền kề .( đại khái người ta dung chữ “ thủy” như chữ “giang” : “ Lục Đầu vô thủy bất thung thanh”, nghĩa là ở Lục Đầu không có con sông nào không vang lên tiếng đóng cọc gỗ lim , “Dịch thủy tống biệt” nghĩa là tiễn biệt bên dòng sông Dịch, gọi Lam giang hay Lam thủy đều có nghĩa là sông Lam.)

             Truyên Kiều là ngôi đền thiêng trong khuôn viên Văn hiến nước nhà. Năm Tân Mão này Hội Kiều Học ra đời, ngôi đền đó đã có thủ từ…từ nay Nguyễn Tiên Điền , Người không phải ám ảnh về nỗi cô đơn Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Trong niềm thành kính bậc đai thi hào, mình vẫn có một tý xíu “thóc mách”. Vòng vo Tam quốc là như vầy: Văn chương và toán học cũng có liên quan không nhiều thì ít (đọc văn chứ đâu phải đọc bản vẽ kĩ thuật). Nhà văn Ngô Tất Tố viết : Mặt trời đã lên cao một cây sào (Tắt Đèn) …vậy lúc đó là mấy giờ ..7 ..8..hay 9 h, Nam Cao viết : cái mặt của  Thị  (Nở) bề  dài ngắn hơn bề rộng (Chí Phèo)…cái hình chữ nhật này có tỉ lệ nào? Họa có là điên mà đi bắt bẻ độ “nhòe” của những câu văn này, dù có “nhòe” thì đã có “sai số văn chương” đỡ đòn. Nhưng dù là văn chương cũng không được vượt ngưỡng cho phép (Con rắn vuông là một ví dụ)

     Tôi giở đến màn Sở Khanh rủ Vương  Thúy Kiều vượt biên . Mật mã “ticviet” được giải mã thành “ trấp nhất nhật tuất tẩu”, sự không hợp lí ở đây là : giờ tuất tính từ 7h đến 9h tối, đêm 21 âm lịch mãi đến giờ tí mới có trăng lên, tôi lo cho cái giờ G có sự trục trặc…vậy lấy đâu ra cảnh : “Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành”… nên chăng chỉ có thể là : “ Đóa trà mi đã ngậm sương lạnh lùng”. Đang mổ cò chợt nghe trẻ con nghêu ngao hát :  “20 giấc tốt 21 nửa đêm” , liệu điều này có đúng với tọa độ “hai kinh vững vàng” không nhỉ ? Mình nghi hoặc bởi dốt quá, không có cách gì kiểm tra !

          Đến màn Từ Hải đại vương xuất hiện…Tôi tưởng tượng : Ngài oai phong như ông Hộ pháp ở cổng tam quan làng mình xưa, không ngờ tôi thất vọng , vì diện mạo ngài có quá nhiều nét ( nói dại )của súc …s..u..c  vật : “lông hùm hàm én mày ngài” và số đo thì lỏng khỏng lòng khòng:  vai 5 tấc rộng: bằng 20 cm, lưng 10 thước cao: bằng 3,33 m hay 4,0 m gì đó (chuyển đổi từ hệ đo lường cổ TQ theo hệ SI).Tôi có “ mác” chân dài tôi sẽ yêu đại za khác, nếu tàm tạm sửa đi tí chút : “ vai 10 tấc rộng lưng vài thước cao”, thì may ra  tôi cũng xiêu lòng.

       Trong Truyện Kiều có 2 chữ “ ngài”.
1/ “Khuôn trăng”…. “nét ngài”…Đây là cặp tiểu đối mô tả hai phần: diện mạo nàng Vân và dáng người (tổng thể). Ngài ở đây là người ( tiếng Nghệ), dân xứ tôi thường nói : “nhọc cấy (cái) con ngài”, nghĩa là mệt cả con người. Các nhà chú giải cứ đè con tằm ngài ra mà chú giải, khổ thân mày! Lông mày nở nang là lông mày sâu róm, Kim lang không thể ok được. Thực ra thi  hào muốn nói tới cái số đo phồn thực của nàng Vân( to mông rộng háng đáng quan tiền) . Nhân bảo như thần bảo, sau này ta biết nàng sinh đẻ vô kế hoạch “một sân quế hòe”, như Cầm Giang  nói “tung một nắm thóc hóa ra đàn gà”

 2/…Hàm én mày  ngài. Ngài ở đây mới thực là tằm ngài… cặp lông mày của  Từ Hải có độ dốc như chữ bát (    ) lật ngược…( thư pháp : nét mác cong)

     Mùa xuân đi trẩy hội Đạp thanh, giàu nghèo gì thì cũng cố phô ra cái sự sang trọng: “ngựa xe như nước, áo quần như” ( X). X từng được chú giải là  nêm cối (chặt …nhiều), X từng được chú giải là nen , như cây năn cây lác mọc chi chit ở ruộng hoang…tôi cho rằng không ổn. Phương án chú giải của tôi : X là cây nen hay còn gọi là cây niệt, thấp,thân gỗ lá hình elip sáng bóng, đặc biệt trên thân nó thường mang 3 loại quả nhỏ xanh vàng đỏ sặc sỡ vui mắt…có vậy mới phù hợp với cái cảnh thiếu nữ du xuân nơi hương đồng cỏ nội “ Xiêm y mớ  bảy  mớ ba -  Xanh hồng vàng lục…như là  quả nen”.

Cứ đồng quang sang rú rậm như thế này kể cũng tốn giấy và phạm thượng… tôi phải “phanh” cái thể văn “ lan man kí” này lại …cầu trời mong đất sớm có nhãn dược  để mắt mình  luôn luôn “trông gà hóa  Oke”.


Nha Trang 13/ 11/2011
Lâm tẩu Thái Doãn Mại

Một minh triết thiền: THẾ À !

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011 0 nhận xét

Một minh triết thiền: THẾ À !


THÁI DOÃN HIỂU


Cách đây khá lâu, một nhà xuất bản nọ ở phương Nam có nhã ý nhờ tôi xem lại bản dịch và nhân thể viết mấy lời đưa duyên cho một công trình thiền học (1) của Nhật Bản. Tôi phấn hứng làm công việc này vì phát hiện ra rằng đằng sau một nước Nhật  phồn thịnh về công nghệ còn có một nước Nhật với nền văn hóa truyền thống hào hoa. Không ai tưởng tượng nổi người Phù Tang văn minh hiện đại lại là một dân tộc có nhiều tín ngưỡng đến thế. Vâng, ở đời làm sao sống được trên trần thế này mà lại thiếu tín ngưỡng !?. Người Nhật có 221 triệu dân thì có đến 217 triệu tín đồ ! Chỉ có 4 triệu là vô thần [trong đó có 112 triệu người theo đạo Shinto (quốc giáo), 89 triệu Phật tử, Thiên Chúa giáo 1,7 ; 14,5 triệu theo các giáo phái khác] (2) Tác phẩm ấy có tên là SHASEKISHU do vị tổ sư MUJU khởi thảo từ thế kỷ XIII và các đồ đề của ngài thuộc dòng thiền về sau viết nối. Nó là quyển minh triết thiền thú vị gối đầu giường của bất cứ người dân Nhật có đạo hay không có đạo Phật suốt 8 thế kỷ qua. Quyển sách mỏng, nhỉnh hơn trăm trang  đã được dịch ra hầu hết các ngữ quan trọng của thế giới (3). Theo chỗ tôi được biết thì người Nga cũng vô cùng thích thú tiếp nhận sách thiền này khi nó được dịch vào quãng tháng 5-1989. Và bây giờ đến lượt người Việt Nam chúng ta.

Nhân dịp này, để thưởng thức nghệ thuật, tôi xin đọc hầu quý bạn một mẩu giai thoại thiền có duyên nợ  nhiếu nhất đối với tôi trong cuốn sách trứ  danh đó.
                                                     
THẾ À !

Thiền sư Hakuin được những người xung quanh ca tụng là người trong sạch. Một gia đình người Nhật có tiệm bán thực phẩm gần nơi Hakuin ở. Họ có một cô con gái xinh đẹp. Bất ngờ, cha mẹ cô gái khám phá ra cô có thai.

Việc này làm cha mẹ cô gái nổi giận. Cô gái không chịu thú nhận người đàn ông cô chung đụng là ai, nhưng sau bao nhiêu là phiền phức, cuối cùng lại là tên Hakuin.

Phẫn nộ vô cùng, cha mẹ cô gái đến  xỉ vả ngay vị thầy đức hạnh này. Hakuin chỉ thốt lên vỏn vẹn hai tiếng: Thế à ? rồi thôi.

Sau khi đứa bé sinh ra, nó được mang tới trao cho Hakuin. Lúc đó Hakuin đã mất hết danh dự, nhưng việc này không làm cho Hakuin mảy may buồn. Hakuin săn sóc đứa bé rất tử tế, ngày ngày xin sữa của những bà mẹ hàng xóm và những đồ dùng cho đứa bé.

Một năm sau, cô gái không còn chịu đựng được nữa. Nàng nói sự thật với cha mẹ nàng rằng người cha thật sự của đứa bé không phải là Hakuin mà là một thanh niên bán cá ngoài chợ.

Lập tức cha mẹ cô gái đến ngay Hakuin, xin Hakuin tha lỗi, chuyện xin lỗi dài dòng, và xin đứa bé về. Hakuin ưng thuận. Khi trao lại đứa bé, Hakuin cũng chỉ thốt ra hai tiếng : Thế à !

LỜI BÌNH : Sự thật là sự thật, thế nào cuối cùng cũng phơi ra ánh sáng chẳng cần một ngoại lực nào. Tôi nhớ câu nói của vị Thánh Ấn Độ Gandhi  “Một chân lý bao giờ cũng là chân lý dù bị tất cả thiên hạ đả đảo. Một sai lầm vẫn là một sai lầm dù được tất cả thiên hạ hoan nghênh”.

Thiền sư Hakuin là một dạng Quan Âm Thị Kính của nước Nhật nhưng ở tầm cao hơn. Như bạn thấy đấy Thị Kính - ở thời kỳ đầu còn ý thức và vật vã về nỗi đau khi bị vu oan giá họa, còn Hakuin thì tuyệt nhiên không. Do tu luyện kỹ thành chánh quả, thiền sư xử lý trầm tĩnh mọi tai biến vượt ra ngoài tầm thế tục. Người đã thành huyền nhân rồi.

Một thời, tôi vốn  là người hăng hái đấu tranh để đến nỗi những người gần gụi thường trách cứ là “đi đâu cũng ham đấu đá”. Bà vợ tôi thường khổ sở vì cá tính mạnh “không phải hòn bi cho người khác dễ lăn”. Âu cũng là do bản tính hướng thiện và sự tuân thủ quá mê tín lời dạy “Hạnh phúc là đấu tranh” của ông Mác. Nhưng sau bao nhiêu là tai ương gặt hái từ cái dại dột “Đấu tranh = tránh đâu”, tôi bỗng trầm mình lại giác ngộ khi đọc thiên minh triết thiền Thế à ! Rồi, tôi đi học thiền và tích cực vận dụng vào đời sống.

Người phương Tây ưa lăng xăng đi cải tạo thế giới và kẻ khác, còn người phương Đông lại thích âm thầm khám phá mình. Xưa nay, sửa trị người khác dễ, nhưng sửa mình cực khó. Một bà mẹ nào đó đã dạy con thật chí lý “Bên phải của mình là bên trái của người”. Mỗi một con người sống là phải gánh chịu sự tàn phá ghê gớm của thời gian và sự bất công lăng loàn của loài người. Ai cũng tự mình sống cho đúng thì có cần rậm lời cãi vã tranh được tranh thua không nhỉ ?

Rõ khổ, con người luôn luôn sống trong bệnh hoạn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ đó. On peut  guérir le comrps, on ne peut passe quérir du corps - Muốn cho thân không bệnh thì tâm phải vô bệnh. Giai thoại thiền này cùng với quyển sách là phương thần dược chữa lành bệnh tâm. Nó đã giúp tôi cập được bến bờ bên kia của bát nhã (5). Đọc các bạn nghe là để thiền với tinh thần đó.



--------------------
(1) GÓP NHẶT CÁT ĐÁ do Đỗ Đình Đồng dịch, Xạ Thụy Thái Doãn Hiểu hiệu đính, nhuận sắc và  đề tựa. Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành vào tháng 7-1990. Trong vòng một năm đã tái bản đến 3 lần, những năm sau tổng cộng 7 lần.
(2) Tài liệu thống kê của Viện Phương Đông học (Nga)
(3) Những tên dịch khác nhau của tác phẩm này: THẠCH SA TẬP (tiếng Trung Quốc); , THE ZEN PARDOXES (bản tiếng Anh phổ cập ở tất cả các nước), NGƯỢC CHIỀU CỦA THIỀN (tiếng Nga)…
(4) Nói đúng hơn là đối với các bạn đọc ở miền Bắc. Ở miền Nam trước đây Nhà xuất bản Lá Bối đã in nhiều lần và bạn đọc miền Nam rất trân trọng xem nó là hạt ngọc quý.
(5) Bát nhã: phương pháp dùng trí tuệ để quan sát, chiêm nghiệm, tìm tòi sự thật của sự vật.





Thư chúc mừng

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011 0 nhận xét

Nhân đọc "Thật - Giả trong nghệ thuật", nói cho vui

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011 0 nhận xét

                           NHÂN ĐỌC “THẬT - GIẢ TRONG
                           NGHỆ THUẬT”     NÓI CHO VUI




THÁI DOÃN MẠI



Học giả Thái Doãn Hiểu có bài viết “Thật giả trong Nghệ thuật”. Đoạn cuối tác giả reo lên “ ơ reka”: chân lí là cái lí có chân. Cái sự chơi chữ ở đây thật giản dị mà thâm thúy :
- Chân (hán việt) : thực, có thực, không hư ảo, bản chất…
- Chân (nôm) :cái chân (để đi từ nơi này sang nơi khác.)
Nếu ảnh Ba Tầu dịch ra tiếng ảnh thì chỉ là : chân lí thị lí hữu túc. Đồng bào của ảnh đọc thì chả có gì là hay ho thâm thúy  Âu đây cũng là cái lí có chân, cùng 1 ý nghĩ của 1 người mà tính nghệ thuật khác nhau.

     Không riêng gì trong nghệ thuật, trong đời thường, trong lịch sử, trong khoa học…đã để lại những bài học sống động về thật giả lẫn lộn. Tôi hơi “ bị liều” mà nói rằng: C. Andersen đã nhìn thấy: Con đà điểu ở sa mạc gặp đối thủ. Từng chứng kiến Triệu Cao chỉ con hươu và nói với Tần Nhị Thế cùng bách quan: “ đây là con ngựa”.
Đó là cứ liệu để C. Andersen Tiên sinh viết “Bộ quần áo mới của Hoàng Đế”?
Trở lại kinh thành Đan Mạch, ngụy chân lí (hoàng bào đẹp) lúc đầu đứng ở mảnh đất quyền lực và xu nịnh .Thực ra chân lí đã có sẵn ở trong đầu mọi thần dân. Oái oăm thay , chân quân tử (Nhân –Trí –Dũng) đưa ra cái chân lí trần trụi “ hoàng đế cởi truồng” lại là 1 chú bé mũi còn thò lò. Vì sao vậy ? vì chú bé này chưa học được 2 câu thần chú :

                     Y hi quản thược chi âm
                     Phảng phất chi lan chi vị.

So sánh cho vui thôi, sao lại có sự tương đồng đến lạ:
Tần Hồ Hợi là hoàng đế cởi truồng (như Tần Doanh Chính : độc tài, hưởng lạc…)
Triệu Cao chính là 2 tay thợ may (lắm tài nhiều mưu biết được “gu” của “xếp”). Thực ra đang đứng giữa cuộc đời bụi bặm , ồn ào…để nhìn ra chân lí đâu có dễ. Tô Đông Pha đã từng than thở:

                Hoành khan thành lĩnh trắc thành phong,
                 Viễn cận cao đê, các bất đồng.
                BẤT THỨC Lư Sơn CHÂN diện mục,
                Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.

Nguyễn Du đã từng thấm thía : “anh hùng đoán giữa trần ai mới già”.
Tôi có thói quen hơi bị sai : chân lí thuộc đa số, phụ thuộc vào quyền lực, vì vậy khi thấy nhiều người giơ tay tôi cũng giơ tay biểu quyết. Thực ra chân lí có lúc chỉ thuộc về một người (Galile và thuyết nhật tâm) có lúc thuộc về kẻ yếu ( Nhạc Phi đời Tống) .Tôi chưa biết Mẹ của Chân Lí là ai, nhưng chắc chắn rằng Người phải mang nặng  đẻ đau….Không nói đến những “cái” đại chân lí, siêu chân lí có phạm vi quốc tế, vũ trụ ( như luận điểm chủ nghĩa tư bản rẫy chết, vụ nổ bingbang, hiệu ứng nhà kính….), tôi chỉ dám nói tới vài cái tiểu tiểu chân lí thôi.

   Nhớ ngày nào:
- Khẩu hiệu có ở khắp nơi : HTX là nhà, xã viên là chủ.
- Thực tế ở ruộng đồng: cha chung không ai khóc.
- Thực tế ở cái bồ thóc xã viên: thu nhập tính bằng lạng (100gam)/ ngày công lao động.

Người Ơ re ka  ra cái chân lí: tính tư hữu của nông dân cũng là một động lực của sx là ông Kim Ngọc. Đưa ra các hình thức khoán , chính là cởi trói cho nông dân để VN là nước có xk gạo. À! Hóa ra “ăn cây nào rào cây ấy” cũng không có gì phải xấu xa! Kịch bản cho con trâu Lão Am là qua mấy vụ cày thì đổ, da của nó chỉ có tác dụng:  “sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”.  Với khí thế hừng hực cách mạng, tôi đã say sưa kẻ những dòng khẩu hiệu hoành tráng:

                     Cầm vàng còn sợ vàng rơi,
                      Vào HTX đời đời ấm no

Nhắc lại cũng để nói cho vui… chứ đến Thánh cũng không dạy khôn cho lịch sử.

Nước Nam ta trọng Văn Hiến, trọng Thực học, khinh cái ngụy học:

                   Anh mừng cho chú đỗ ông nghè,
                   Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe,
                   Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng
                   Vinh qui ắt hẳn rước tùng xòe

       Thật là zui zẻ khi ra ngõ gặp tấn sĩ (có tiến sĩ chưa qua trường cấp 3 )
Đỗ Việt Khoa  chính là chú bé trong Kinh thành Đan mạch cổ xưa giáng trần ở Hà Tây quê lụa. Anh đã phát hiện ra nguyên nhân có cái sáo ngữ:
     “Thành tích năm nay cao hơn năm ngoái”. Cái sự đó thật hiển nhiên: đã đi học là lên lớp, đã thi là đỗ, trường ta, huyện ta phải là topten. Tôi già hơn ĐVK, nên có phần“khôn” hơn, tôi nhớ lời mai mỉa của Cụ Tam Nguyên:

                Tầm thường sở chí tại ôn bão,
                 Hà cảm dao dao đàm thế nhân,

Nên trong các kì thi tôi ngậm miệng làm giám thị (không dám nhìn!)
Bộ Học của ta có lẽ đang chờ 1 người như kiểu Kim Ngọc? để nguyên khí nước nhà nối dòng thịnh vượng.

Tham đứng đầu trong 3 tội (tham sân si), có quyền lực thì máu tham càng đậm như anh Máu Dê cho xem phim sex. Loài người đang  tích cực hạn chế (chứ thiến làm sao được) cái bệnh tham nhũng.
       Theo như ông Nguyễn Minh Thuyết, nếu xếp thành số liệt, sự tăng trưởng của các tảng băng nổi tham nhũng, ta có:
   La Thi Kim Oanh, PMU18 , Vinashin….(phần chìm của nó là mấy % ?)
Nếu ta ngắm videoclip chống tham nhũng sao giông giống cảnh trong “Thu Điếu” đến vậy:
           “…Cá đâu đớp động dưới chân bèo”,  hay làm tôi nhớ tới một câu thơ của Bác Hồ: “Ttrời đất Lai Tân vẫn thái bình”.Chao ôi! Tiền thuế là của nhân dân đóng góp…đến trẻ, con cũng biết, vậy thì mình chẳng xứng hạng thất phu.vô tích sự, toàn nói cho vui!
         Hôm qua,một cô gái góa chồng thẽ thọt hỏi tôi mấy câu đến là khó chịu:
- Tham nhũng khu trú ở cơ quan nào trong lục phủ ngũ tạng?
- Cơ chế để tham nhũng là gì? (Thân phụ và Thân mẫu của cái vi rut này ?)
- Cơ chế chống Tham nhũng có giống cơ chế thổi còi bắt lỗi ở  bóng đá không ?
      Tôi liếc mắt đưa tình: Em hãy vào Gu Gờ, rồi thắp hương khấn vái  ở Phủ Khai Phong, xin chỉ giáo.
       Trở lại Kinh thành xưa , C Andersen sắp ra các vai diễn:
- 2 tên thợ may chính là bộ sậu của  lãnh đạo Vinashin
- Hoàng thượng và các Thượng thư: Theo nguyên CTQH Nguyễn Văn An đó là Vua Tập Thể (cho nên N/Q của BCT : không có ai bị phê bình, tất cả là thành công và tốt đẹp…) và được CT nước Trương Tấn Sang ví như đàn sâu bọ, làm cho ai có thần kinh thép cũng phải rùng mình.

     Và đang rất thiếu một chú bé với lời thoại:  Hoàng Thượng khỏa thân ! Hoàng thượng cởi truồng!
     Còn tôi, được xếp vai phó thường dân, đứng lẫn trong bách tính, đi xem rước tùng xòe về nhà rỗi rãi tập làm văn, gọi là nói cho vui

Nha Trang 30/ 10/2011
Thái Doãn Mại

CÂY ROI VÀ CON NGỰA.

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011 0 nhận xét



Cây roi và con ngựa.


THÁI DOÃN HIỂU


Mối quan hệ giữa nhà văn và nhà phê bình văn học sẽ ra sao, ai hơn ai kém, ai trước ai sau  đây ? Phải xác nhận thật chuẩn xác công bằng vai trò và vị trí của phê bình văn học trên văn đàn. Từ  những năm đầu  của thiên niên kỷ này, nhà thơ nhà phê bình văn học Nguyễn Trọng Tạo (1) đã bàn rất hay về vấn đề này. Mới đây, nhà phê bình văn học Văn Giá (2) lại bàn tiếp rất sâu về chuyện ấy. Tôi ngứa  ngáy thấy mình cần phải nói thêm.

Vốn đã bị người đời rẻ rúng, nhà phê bình Vương Trí Nhàn còn khiêm tốn đến tự ty rẻ rúng tiếp  xếp văn phê bình thuộc hạng ba, còn nhà phê bình là người “ăn theo”. Anh Vương nói hồn nhiên nhiều lần chứ không phải là buột miệng lỡ lời.

Rồi Inrasara – nhà thơ dân tộc Chăm, sau khi nhận giải Văn học Asean về tập thơ Lễ tẩy trần tháng tư từ Ấn Độ trở về, trong một cuộc tọa đàm bàn tròn đã ngất ngưởng tuyên bố một câu xanh rờn  “Nhà phê bình là nô bộc của nhà văn”.

“Ăn theo” chưa đủ giờ lại còn là “nô bộc”, tức nhà  phê bình là đầy tớ cho nhà văn. Thật hồ đồ. Cách nói ẩu đó đã làm cho không biết bao nhiêu nhà văn cỡ choai choai vênh váo. Tôi bật tực cười khi có dịp tiếp xúc với họ!

Vương Trí Nhàn hồi còn hàn vi biên tập sách cho Tô Hoài viết lời giới thiệu nịnh Tô Hoài đến chết, nhưng khi có tiếng tăm thì lại quay ra hạ bệ thần tượng của mình. Tại sao tô hồng chán giờ lại bôi đen ? Văn ấy không thể xếp vào hạng 3 mà là hạng bét, và bản thân người viết cái thứ văn cơ hội ấy chỉ đáng là kẻ ăn theo.

Còn Inrasara Phú Trạm thì do bội thực tự hào mà hạ mục vô nhân đó thôi. Lời nói hớ hênh trong cơn phấn hứng đã phóng ra rồi thì tứ mã nan truy. Giá không có câu nói tai hại bột phát này thì hay cho Inrasara biết bao. Thường ngày, qua tiếp xúc, con người anh ấy hiền hậu và thủ thỉ, đâu có dữ như vậy.

Bây giờ, tôi xin hỏi hai vị : Các thầy giáo dạy văn từ bậc phổ thông đến đại học khi chấm văn cho học sinh sinh viên họ ăn theo, nô bộc ở chỗ nào ? Thầy giáo và học trò là hai cấp độ trí tuệ khác nhau. Thầy phán thì trò sợ xanh mang vãi cả linh hồn chứ chơi à ! Vậy thì ai ăn theo ai ? Ai nô bộc của ai ?

Tôi lại xin chất vấn hai ông nữa : Các thiên tài phê bình văn học như Biêlinsky ở Nga, Thánh Thán, Viên Mai ở Trung Quốc, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… ở Việt Nam họ đều “ăn theo”, “nô bộc” của nhà văn Nga, Trung Quốc, Việt Nam hay sao ? Chẳng nhẽ ông Hoàng Ngọc Hiến giáo sư của các giáo sư, thầy dạy viết văn cho những Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Trọng Tạo, Văn Giá, Văn Chinh…  lại  ăn theo làm nô bộc của học trò mình sao ? Rõ ràng Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến là sư biểu của các nhà văn chứ? 

Con gà đẻ ra trứng gà, nhưng nhà phê bình lại biết thưởng thức mùi vị trứng rán dĩ nhiên hơn con gà . Là nhà phê bình thứ thiệt các phê bình gia  phải lớn và cao hơn nhà văn cái đầu thì mới có thể tính đến chuyện phê ai. Nhà phê bình và nhà văn làm thành một cặp tri âm Bá Nha - Tử Kỳ tương đắc. Nhà phê bình và nhà văn có thể ví khiếm nhã như Biêlinxky là cây roi và con ngựa. Con ngựa không có cây roi phê bình quất cho lồng lên thì rất dễ ủ rũ đi bước một chuyệc choạc. Nhà văn mà không có nhà phê bình thì tác phẩm như trầm hương của anh ta cất giấu ru rú trong rương hòm lâu ngày cũng thành củi mục. Người viết phê bình chân chính là người không những biết làm sáng giá tác phẩm văn học, mà còn là người chỉ trích những sai lầm, kém cỏi của nhà văn nữa. Quan hệ của nhà phê bình với nhà văn là chiếc cầu nối giữa nhà văn với bạn đọc về phương diện thông tin.

Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa “Phê bình văn học là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới”.


Nhà phê bình dương cao bó đuốc lý luận hướng dẫn sáng tác. Trước văn phẩm của nhà văn, nhà phê bình là độc giả số 1 đặc biệt có quyền phán xét thẩm định giá trị của nó về mọi phương diện. Trước tác phẩm của nhà văn, nhà phê bình bằng tất cả nỗ lực cộng hưởng, sáng tạo của mình đã tạo nên một văn bản tác phẩm thứ hai không thua kém và có khi nổi trội hơn văn bản thứ nhất. Xưa nay, có ai dám đặt các tác giả lục tài tử (sáu quyển sách hay nhất của Trung Quốc) - toàn là cỡ kiệt xuất của văn học cổ điển Trung Hoa từ Trang Tử với Nam Hoa kinh, Tư Mã Thiên với Sử ký, Khuất Nguyên với Ly tao; Đỗ Phủ với Thơ; Thi Nại Am với Thủy Hử; Vương Thực Phủ với Mái Tây lên trên đầu Thánh Thán  theo cách dàn xếp của Vương Trí Nhàn và Phú Trạm ? Tuy nhiên không phải mọi dạng viết lách thuộc phạm vi phê bình bài báo, bài điểm sách, bài tổng quan văn học, tiểu luận, bài viết về các chân dung văn học, bài đối thoại phê bình văn học, thậm chí là các trào lưu bút chiến văn học v.v. đều có thể được coi là văn học, chỉ một số ít những trang viết đạt được tính nghệ thuật cao về ngôn từ thẩm mỹ, bộc lộ phong cách độc đáo, cái nhìn có chủ kiến, mới trở thành phê bình văn học. Trường hợp “ăn theo” và “nô bộc” chỉ đúng với những tay mơ làm nghề  điểm sách quấy quá, chữ nghĩa lóp lép ta thường gặp đầy trên các mặt báo. Sao lại vơ đũa cả nắm như vậy ?

Nhân đây cũng xin nói thêm là lối cái điểm sách bôi bác hiện nay lại được các báo chuộng vì nó ngắn gọn, đăng ít đất, đọc nhanh; còn lối phê bình hàn lâm thì rềnh rang mất thì giờ quá. Báo Văn Nghệ có mục Mỗi tuần gặp một nhà văn là cách hành xử  theo cung cách trên. Còn nhớ năm 2008, tôi có gửi cho Toà Soạn báo Văn Nghệ một tiểu luận phê bình “Gánh bao nỗi người” viết tổng kết về toàn bộ văn nghiệp Trần Nhuận Minh. Khi giở báo ra xem thì ôi thôi, đáng lẽ đăng mục Phê bình & Tiểu luận  thì nó được nhét vào mục Mỗi tuần gặp một nhà văn. Bài viết được cắt rỉa  từ 43 trang sách bản thảo in khổ 14,5 x 20,5 cm giữ lại 6 trang, đủ một trang báo Văn Nghệ. Cái lối  gọt chân cho vừa giày chẳng văn chương một tí nào cả, nó không tôn trọng tác giả và phương hại đến giới phê bình làm người ta ngộ nhận rằng thì là phê bình văn học ở xứ ta chỉ toàn là điểm sách ! Tôi thật rầu trước lời khen của tòa soạn “Hay không kém Hoài Thành” về đứa con tinh thần của mình bị ngắt đầu cấu cánh như qụa rỉa tử thi trên chiến trường. Năm ngoái, khi còn rong chơi bên châu Úc, tôi có Email về chất vấn ông Tổng biên tập  Nguyễn Trí Huân: “Tại sao một truyện ngắn viết về một người dân bình thường được đăng tất dù có khi cả 2 kỳ báo (4 trang) mà một tiểu luận nghiên cứu về một nhà văn viết rất công phu và tâm huyết lại chỉ cho 1 trang ?”. Ông Huân im lặng, còn ông Nguyễn Duy đỡ lời “ Nó thế bác ạ, báo quy định thế”. Tôi cũng đành biết thở dài Cái xứ mình nó thế đấy. Thôi đành phải ném 30 chục chương của quyển sách Thi nhân Việt Nam hiện đại lên Internet cho cư dân mạng đọc ké vậy.


Nhà văn cất rượu nho, nhà phê bình nếm rượu nho (Abutalíp). Phê tác giả và tác phẩm thật dễ, nhưng đánh giá anh ta quả là khó. Nhà phê bình nâng niu thành quả lao động khó nhọc của nhà văn. Phải đọc kỹ, chuẩn bị tư liệu phong phú và chu đáo, nghiền ngẫm những ý tưởng thật nhuyễn mới đặt bút viết. Có như vậy tác phẩm phê bình mới đóng góp những điều mới mẻ, hữu ích, độc đáo của riêng mình. Phê bình phải làm cho người đọc thấu hiểu những điều sâu xa ẩn giữa những dòng chữ của nhà văn. Nhà phê bình gợi mở, thức dậy những trăn trở nghĩ suy của bạn đọc trước những vấn đề nóng của thời đại. Viết có lý có tình. Khen chê đến độ, đừng kinh viện quá, đừng sáo rỗng hay quá khích. Viết phê bình không thể chiều hết thị hiếu nghệ thuật của mọi người mà phải như Hoài Thanh “lấy hồn ta để hiểu hồn người”. Nhà phê bình là người giữ và truyền lửa cho văn học.

Muốn trở thành nhà phê bình văn học chân chính thì bản thân nhà phê bình phải là nhà văn thứ thiệt. Nhà phê bình phải  trung thực, không a dua, phụ họa, ăn theo nói leo, không xu thời nịnh thế. Nhà phê bình cần học vấn sâu rộng, năng khiếu lịch lãm và niềm đam mê cháy bóng. “Ở đâu không có tình yêu đối với nghệ thuật thì ở đó không hề có phê bình” (Puskin)

Nhiệm vụ của nhà văn hay nhà phê bình là phải viết  cho hay, thật hay vào. Là kỹ sư của tâm hồn, nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại. Mỗi tác phẩm muốn có tầm cao thì khi thai nghén hình thành nó phải lấy một hạt nhân triết học làm động lực. Thiếu điều này thì tác phẩm sẽ rất thấp và phê bình văn học chẳng có điều gì để nói..

Phê bình văn học phải hướng tới không khí cởi mở, thẳng thắn, khoa học và bình đẳng. Nhà phê bình đánh giá văn học bằng cảm quan thẩm mỹ. Tài và tình của nhà phê bình sẽ tạo nên cái Đẹp. Dòng sông phê bình êm đềm chảy giữa đôi bờ nghệ thuật và khoa học. Nhà phê bình luôn để hồn mình phiêu diêu trên những kiệt tác văn học. Tố chất nhà phê bình cũng như nhà văn phải nhạy cảm, trung thực, thân ái. Viết phê bình hay viết văn đều là một cách ứng xử văn hóa, một cuộc chạy maratông kiếm tìm chân thiện mỹ.

Phê bình có thiên chức phát hiện những nguyên lý đời sống, chỉ ra thi pháp nhà văn sử dụng, tiếp cận được thế giới nghệ thuật phong phú của anh ta. Nhà phê bình là  người bạn đồng sáng tạo của nhà văn. Viết phê bình là do sự thôi thúc mãnh liệt nhu cầu cần giãi bày không khác gì nhà văn viết văn. Công việc viết phê bình cũng thiêng liêng nghiêm túc như nhà văn sáng tác. Một thú đam mê không biết mệt mỏi. “Những người viết phê bình thường là những người có chủ kiến mạnh mẽ, cảm hứng phê bình nảy sinh chủ yếu khi chủ kiến  của nhà phê bình ngẫu nhiên cộng hưởng với tác giả” (Hoàng Ngọc Hiến)

Thế nhưng, phê bình ở nước ta lệt đệt đi sau tác phẩm của nhà văn, chưa trở thành chuyên nghiệp, chỉ làm nghề tay trái nên không thể đi sâu vào học thuật, chỉ làm công việc nói như ai đó là  “lọng xanh che dái ngựa”. Nguyên nhân là do quan niệm sai trái, phiến diện và đời sống cơm áo chi phối can thiệp quá sâu. Những cuộc cãi nhau, sát phạt nhau thiếu tính học thuật. Nhà phê phán học, nhà chửi học như những tay văn côn bặm trợn hùng hục bôi xóa tên người khác rồi thế tên mình vào đó. Hoặc cái lối phê bình chiếu lệ vô bổ khen chê bày ra mỗi thứ một ít cho kín cạnh. Thường họ làm quảng cáo thương mại cho nhau nên rất dễ bốc đồng.  Khen một tác phẩm dở tai hại không biết đâu mà lường. Loạn chuẩn đã làm cho sáng tác rối loạn, cứ nhìn trên mặt báo trang văn học nghệ thuật thì rõ, văn với thơ - nói theo cách Phạm Xuân Trường - nhợt nhạt như đứa trẻ bị cưỡng hôn.

Nền phê bình chân chính cần phải được tiến hành từ tốn bằng những cuộc trò chuyện thân mật, lấy học thuật làm gốc.

Viết văn như cất rượu, làm tốt  được rượu ngọn, cất không khéo được dấm, vụng về được mẻ. “Văn chương là lương tâm của lịch sử. Phê bình là lương tâm của văn học” (Biêlinxky). Cần xem phê bình là cố vấn chiến lược của nhà văn nếu muốn tồn tại. Cần hăng say cố gắng đốt lửa nhiệt tình lên công việc để nhà phê bình trở thành một chuyên gia đáng tin cậy của nhà văn. “Tôi viết phê bình để làm sáng giá và sang giá những tác phẩm mà tôi tâm đắc… Không có sự tâm đắc này phê bình văn học hướng về mục đích ngoài văn học” (Hoàng Ngọc Hiến)

---------------------------
(1) Nhà phê bình - người bạn lớn của những nhà sáng tác - Nguyễn Trọng Tạo

(1) Phê bình thơ cần những cặp mắt xanh - Nguyễn Trọng Tạo

(2) Những nguy cơ của lý luận phê bình văn học hiện nay - Văn Giá.




NGƯỜI LƯU DANH CHO THƠ CA

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU 1 nhận xét

NGƯỜI LƯU DANH CHO THƠ CA(1)



 
i

Rate This
Quantcast

NGUYỄN TRỌNG TẠO

                                                Nhà nghiên cứu văn học Thái Doãn Hiểu


Năm ngoái, tôi vừa đọc một cuốn sách hay nghiên cứu về thơ Tứ Tuyệt của Nguyễn Sĩ Đại với nhan đề Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, thì năm nay tôi lại khá thú vị khi cầm trên tay cuốn Tuyển tập một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam do Thái Doãn Hiểu và Hoàng Liên tuyển chọn, dày ngót ngàn trang khổ 14,5 x 20,5 cm in trên giấy trắng, bìa cứng bọc sơmi rất đẹp. Lại nghe nói mới đây, một cô gái trẻ chỉ bằng luận án Thơ tứ tuyệt Lý Bạch mà đã trở thành phó tiến sĩ… Hóa ra thơ tứ tuyệt (tuyệt cú) không những “Không hổ thẹn là một hạt minh châu sáng chói trong kho tàng văn hóa Trung Hoa” (Nhiếp Thế Mỹ) từ xa xưa mà nó còn là mối quan tâm đặc biệt đối với thơ ca Việt Nam chúng ta.

Trong mấy năm gần đây, một số nhà thơ cho in thơ tứ tuyệt của họ thành tập như Tân Trà, Trần Mạnh Hảo, Hải Bằng, Nguyễn Văn Dinh, v.v… nhưng làm được một tuyển tập tứ tuyệt Việt Nam ngàn năm đồ sộ như Thái Doãn Hiểu và Hoàng Liên đã làm cho nền thơ bốn câu nước nhà thì quả là “xưa nay hiếm”. Thú thật, đây là lần đầu tiên tôi được đọc cùng lúc thơ tứ tuyệt của gần 600 tác giả với hơn 900 bài được hai tác giả tuyển chọn. Nhiều bài thơ lâu nay mình chỉ thuộc một hai câu, nay mới được đọc trọn bài. Nhiều tác giả chỉ nghe tên trong sử sách, nay bỗng chạm được cái thần thơ của họ qua tứ tuyệt. Nhiều tác giả mới toanh chưa nghe danh bao giờ, nay cũng góp cho thơ tứ tuyệt Việt Nam ta những bài thơ độc nổi da gà… Hầu như tất cả các nhà thơ cổ điển, cận đại có làm thơ tứ tuyệt đều có mặt đầy đủ trong công trình hùng hậu chưa từng thấy, kể cả những tác giả người Việt ở hải ngoại. Tuy nhiên là chưa thể đầy đủ hết tất cả những tác giả Việt làm thơ tứ tuyệt (hay thơ 4 câu) trong cuốn sách này, và việc chọn bài, số lượng bài của từng tác giả, có thể còn nhiều ý kiến trao đổi, nhưng tập hợp được ngót ngàn trang sách như vậy quả là một kì công đáng trân trọng. Đấy là một công việc tưởng chỉ cần có tâm và công phu sưu tầm sao chép là xong, vậy mà thử hỏi mấy ai đã làm được?

Trong cuốn sách này, ngoài 919 bài thơ tứ tuyệt, cặp tác giả còn có bài viết về thơ tứ tuyệt (Tứ tuyệt thể thơ bé hạt tiêu) hai phụ lục Biến thái của thơ tứ tuyệt (gồm 100 bài từ 2 câu đến 8 câu), Bàn về thơ của nhiều tác giả, và phần Tiểu sử các nhà thơ (Gồm 100 trang). Dù tôi không đồng tình lắm với một vài quan điểm khen bài này bài nọ là “tuyệt chiêu”, câu này câu nọ là “xuất thần, đọc lịm cả người”, tác giả này “được 5 bài”, tác giả nọ “được 4 bài” một cách tùy hứng chủ quan, cũng như thơ từ hai đến tám câu có phải là “biến thái của thơ tứ tuyệt” hay không, v.v… Nhưng đối với việc làm sách, những quan điểm riêng của tác giả là cần thiết và đáng tôn trọng. Nhiều nhà nghiên cứu và biên soạn thơ Đường đều có những quan điểm tiếp cận rất khác nhau; có người chọn đến vài trăm tác giả, có người chọn 10 tác giả, và có người chỉ chọn 3 tác giả thơ Đường lại không chọn Bạch Cư Dị mà chọn Lý Bạch, Vương Duy, Đỗ Phủ dù Bạch Cư Dị chiếm địa vị hết sức lớn trong nền thơ kì vĩ ấy. Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân cũng mang đậm quan điểm cá nhân, và nhờ vậy mà lưu danh cho hậu thế. Công việc lưu danh thơ ca cho hậu thế là công việc “ăn cơm nhà đi vác ngà voi”, chính đáng, sang trọng đấy, nhưng cũng dễ bị khối người dè bỉu. Nếu chỉ bị dè bỉu mà nhụt chí thì chẳng còn dã tràng xe cát chốn biển xanh.

Thái Doãn Hiểu và Hoàng Liên quả là một cặp tác giả vì tình yêu thơ ca mà can đảm làm cái việc “ăn cơm nhà đi vác ngà voi” ấy. Cứ nhìn những cuốn sách cặp tác giả này đã làm và đang làm thì chúng ta không thể nào không quý nể. Từ cuốn Thơ tình bốn phương, Giai thoại nhà văn Việt Nam, Giai thoại kẻ sĩ Việt Nam, Giai thoại nhà văn thế giới, Một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam… đã ra mắt bạn đọc, cuốn nào cũng trên dưới ngàn trang, bìa cứng cùng một phoocma đến những cuốn đang chuẩn bị ra mắt như Thi nhân Việt Nam hiện đại, Những kiệt tác thơ Việt Nam, v.v… đều sáng rõ một ý nguyện tốt lành là muốn góp tâm sức cho việc lưu danh cho thi ca nước nhà; khác hẳn với một số người làm sách vì lợi nhuận, tiền bạc, ăn theo văn sĩ, chỉ làm những cuốn kiếm được món lời, không cần một định hướng văn chương nào cả. Tôi ước tính Thái Doãn Hiểu và Hoàng Liên phải bỏ vào cho mỗi cuốn cả trăm triệu đồng và cố gắng lắm mới có thể thu lại được vốn ban đầu bởi vì nhiều tác giả đã nhận được sách biếu, còn không ít những cuốn sách “kí gửi” cho tác giả chẳng dễ gì thu lại được. Hơn nữa, cả hai ông bà theo lí lịch trích ngang, đều là nhà giáo nghèo, vợ còn dạy học, chồng đã nghỉ hưu, lại cùng dốc sức đi làm cái việc “trời ơi”, đấy là việc làm sáng giá cho Văn nhân mặc khách mà mình yêu quý, thì quả là những người to gan lớn mật. Theo tôi, đối với những người làm sách theo kiểu công trình lớn như thế, cần được sự hỗ trợ của Nhà nước và tấm lòng thơm thảo của nhà văn và bạn đọc.

Trở lại cuốn Một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam, cho dù nó không thể thỏa mãn với “gu” thơ của người này người khác, cho dù khá nhiều bài chỉ là thơ 4 câu chứ không hẳn là thơ tứ tuyệt, cho dù còn sót những bài hay hoặc tác giả này tên tuổi nọ, cho dù phần tiểu sử các nhà thơ còn có sự tùy tiện thiếu chính xác (như ghép tập nhạc của Vĩnh Nguyên vào tiểu sử nhà thơ Vĩnh Nguyên – do trùng bút danh), v.v… Nhưng đấy chỉ là sai sót nhỏ trong một cơ thể lớn, vẫn còn có thể khắc phục được. Chính vì vậy mà bộ sách lớn của Thái Doãn Hiểu và Hoàng Liên sẽ cùng với các Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam, Một thế kỉ thơ Việt, Thơ miền Trung thế kỉ 20, v.v… ra mắt vào những năm cuối thế kỉ này góp phần làm sáng giá và sáng giá cho nền thơ ưu việt của chúng ta, bởi đấy là sự gom nhặt có lựa chọn nhằm lưu danh cho thơ ca.

Huế, 6 – 1997
Nguồn : - Nguyễn trọng Tạo web
- Nhà báo & Công luận


(1) Đọc Tuyển tập một ngàn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam – Nxb Văn hóa Dân tộc, 1997.

CHÂM NGÔN SỐNG VÀ VIẾT

Tôi viết phê bình là để làm sáng giá và sang giá tác giả, tác phẩm văn học.

HOÀNG NGỌC HIẾN

Mỗi ngày gặp một người, họ là mảnh của thiên tài nhân loại. Hãy nhặt những chữ của đời mà viết nên trang.

CHẾ LAN VIÊN

Sở dĩ tôi nhìn được xa trông được rộng là bởi tôi đứng trên vai những người khổng lồ.

NIU TƠN