"Tôi trước tác là để phổ biến tâm thuật chứ không phải để kiếm danh lợi." THÁI DOÃN HIỂU
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi Nhân Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi Nhân Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

TINH THẦN KHAI SÁNG CỦA PHAN CHÂU TRINH

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011 0 nhận xét

Bài và ảnh THÁI DOÃN HIỂU



8h -11 h thứ 4, ngày 23-3-2011 tại Trường Đại học Hoa Sen, cơ sở II, số 2, Tản Viên, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra  cuộc hội thảo trọng thể kỷ niêm 85 năm ngày mất của  nhà ái quốc Phan Châu Trinh. Đơn vị tổ chức : Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, Đại học Hoa Sen và Nhà xuất bản Tri thức.

Đông đủ giới trí thức, các giáo sư, nhà nghiên cứu, nhà văn, sinh viên đã đến dự.

Hội nghị đã được nghe lời phát biểu chào mừng của bà Nguyễn Thị Bình - Chủ tịch Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh.

Các cử tọa đã lắng nghe Giáo sư Tiến sĩ Chu Hảo đại diện Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh giới thiệu chi tiết về các hoạt động của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, hệ thống giải thưởng năm 2010

Diễn giả chính của  chương trình là nhà văn Nguyên Ngọc. Ông đã thuyết trình bài viết Xây dựng con người tự chủđể, dân tộc tự chủ, chương trình vĩ đại bị dang dở của Phan Châu Trinh trong thời đại mới.

Tiếp đến Tiến sĩ sử học, Hiệu trưởng trường Đại học Hoa Sen Bùi Trân Phượng thuyết trình bài Tinh thần Phan Châu Trinh – Tinh thần xuyên thế hệ.

Cả hai bản báo cáo đều sâu sắc, hiểu đúng bản chất của Phan Châu Trinh về khai dân trí, chấn hưng khí, hậu dân sinh, rất mới mẻ trên tinh thần tiếp thu di sản cha ông trong tinh thần vận động của lịch sứ và thời đại

&

Tối 24.3, lễ trao Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh đã được tiến hành trọng thể tại khách sạn Rex, TP.HCM. Kể từ năm nay, lễ trao giải sẽ được tổ chức hằng năm đúng vào ngày 24.3 - ngày giỗ của nhà yêu nước, chí sĩ Phan Châu Trinh. Giải thưởng này vốn là một tập hợp các giải thưởng văn hoá tập trung vào bốn lĩnh vực: giáo dục, nghiên cứu, dịch thuật và Việt Nam học.
Theo nhà văn Nguyên Ngọc - chủ tịch Hội đồng Khoa học Giải thưởng Phan Châu Trinh, Hội đồng Giải thưởng đã chọn được sáu nhà nghiên cứu và dịch giả để trao Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh năm 2010. Trong đó có hai nhà nghiên cứu nước ngoài là Giáo sư, dịch giả văn học, nhà thơ Kevin Bowen (Mỹ) và TS. ngôn ngữ học Ivo Vasiljev (CH Séc). Kevin Bowen là nhà thơ, nhà văn Mỹ, được xem như người mở đường cho văn học Việt Nam vào Mỹ qua việc tổ chức dịch nhiều tác phẩm thơ, văn xuôi Việt Nam… còn TS Ivo Vasiljev là người dịch tác phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Séc, tác giả cuốn sách Nghiên cứu về di sản Việt cổ (Prague 1990).
Giải Phan Châu Trinh 2010 vinh danh GS. Hoàng Tuỵ (giáo dục), nhà phê bình Lại Nguyên Ân (nghiên cứu), dịch giả Phạm Văn Thiều và Nguyễn Đôn Phước (dịch thuật).
GS Hoàng Tụy được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục” với những thuật ngữ mà bất cứ ai trên thế giới muốn đi vào chuyên ngành này đều phải học như Tuy’s cut (lát cắt Tụy), Tuy-type algorithm (thuật toán kiểu Tụy), Tuy’s inconsistency condition (điều kiện không tương thích Tụy)...

Cùng nhận Giải thưởng Phan Châu Trinh 2010 là nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Giải thưởng về nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu văn bản học
- được mệnh danh là người trục vớt các di sản văn hóa..           

Dịch giả Phạm Văn Thiều nhận Giải Dịch thuật với những cuốn sách phổ biến tri thức khoa học ở các lĩnh vực vật lý, thiên văn, toán học. Dịch giả Phạm Xuân Thiều hiện đang công tác tại Viện Vật lý thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Hội Vật lý Việt Nam. Ông đồng thời Phó Tổng thư ký Hội Vật lý Việt Nam kiêm Tổng Biên tập tạp chí Vật lý & Tuổi trẻ
           

Giải Dịch thuật còn được trao cho dịch giả Nguyễn Đôn Phước với các tác phẩm về kinh tế kinh điển như: Từ điển thuật ngữ kinh tế, NXB Tri thức, 2007; Giải Nobel kinh tế, NXB Tri thức; Kinh tế học môi trường, NXB Trẻ, 2008..
            .

Hai ông
Ivo Vasiljev và Kevin Bowen được vinh danh với Giải Việt Nam học. Ông Ivo Vasiljev đã thực hiện luận văn tiến sĩ về: Ngữ pháp Hán – Việt trong tiếng Việt chuẩn hiện đại, tại Viện Đông Phương, Viện Hàn lâm Czech và Slovak về Khoa học năm 1964. Ông là tác giả của cuốn sách Nghiên cứu về di sản Việt cổ  (Prague 1990), một nghiên cứu lịch sử về người Việt. Ông đã xuất bản các nghiên cứu về ngôn ngữ học typo, về chức năng của ngôn ngữ trong các tộc người, về chủ nghĩa đa ngôn ngữ, lịch sử di dân. Ông cũng đã viết rất nhiều về văn hóa Đông Nam Á.         

Ông
Kevin Bowen là nhà thơ, dịch giả, giám đốc Trung tâm William Joiner – Nghiên cứu về Chiến tranh và Hậu quả xã hội, thuộc Đại học Massachusetts, Boston. Ông là tác giả của ba tuyển tập thơ: Playing Basketball with the Viet Cong, Forms of Prayer at the Hotel Edison, và Eight True Maps of the West. Ông là đồng chủ biên một vài hợp tuyển về văn và thơ, bao gồm: Writing Between the Lines: An Anthology on War and its Consequences, Mountain River: Vietnamese Poetry from the Wars, Distant Road: Selected Poems of Nguyen Duy, Six Vietnamese Poets,  và Early Zen Poems from Vietnam.

Theo thông tin từ Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, năm nay là kỷ niệm 85 năm ngày mất của nhà văn hóa Phan Châu Trinh. Ngoài việc trao giải thưởng niên, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh còn tổ chức một số hoạt động kỷ niệm như: xuất bản hai cuốn sách Diễn từ nhận giải Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (2007 – 2010) và Hoàng Tụy, Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng.


Trong lời đáp,  bài diễn từ của giáo sư Hoàng Tụy gây ấn tượng nhất. Chúng tôi xin đăng kèm dưới đây:

Vì một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại
Hoàng Tụy

Thật là vinh dự lớn cho một người làm khoa học bình thường như tôi được nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh cao quý. Vinh dự lớn trước hết vì giải thưởng gắn liền với tên tuổi một nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc, một sĩ phu thuộc lớp cựu học nhưng đã thoát ra khỏi những quan niệm giáo dục phong kiến cổ hủ đương thời, khởi xướng đường lối canh tân văn hoá, giáo dục để cứu nước: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Vinh dự lớn còn là không phải giải thưởng hay huân chương trong hệ thống hành chính Nhà Nước mà là giải thưởng được trao cho bởi một tổ chức xã hội dân sự, với ý nghĩa cao quý thúc đẩy sự nghiệp văn hoá giáo dục của nước nhà theo tinh thần khai sáng của nhà ái quốc vĩ đại.



Làm khoa học ở một đất nước nghèo khó tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo trung học rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tich cũng ngày càng đa dạng. Được may mắn (chứ không phải rủi ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường đại học khoáng đạt hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới nên tôi thường có dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Hồi còn anh Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại Học tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và trình bày về tư duy hệ thống trong các xêmina giáo dục do anh ấy chủ trì. Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế xã hội ngay từ những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó cho nên ít nhiều cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự vật chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.



Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất.
Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém tụt hậu như hiện nay thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7-8%, thậm chí 10% năm chăng nữa đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ. Muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu mà để giáo dục yếu kém thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: thắng trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây ông đại sứ Hoa Kỳ sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một điều mà từ nhiều năm rồi ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng thì mới cầu tới Bụt ngoài.
Cho nên dù nhiều người đã nói nhiều lần rồi tôi cũng xin nhắc lại lần nữa: chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển hiện nay của xã hội ta là giáo dục. Giáo dục và giáo dục, không có gì quan trọng hơn. Và vì vậy cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện và triệt để là mệnh lệnh cuộc sống. Càng chần chừ, càng trì hoãn càng trả giá đắt, và không loại trừ đến một lúc nào đó sẽ là quá trễ như đã từng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới.
Đó là nội dung thiết yếu hai bản kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung Ương Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ năm 2004 và năm 2009 (bản Kiến nghị 2004 đã được phổ biến rộng rãi, còn bản Kiến nghị 2009 chưa được nhiều người biết do bị hạn chế phổ biến).
Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15 năm từng có nghị quyết lịch sử của Hội Nghị TƯ II, khoá 8, xem phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng mười năm sau đó, Thủ Tướng Chính Phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại Hội X và ba Hội Nghị TƯ sau đó đều nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài mấy thập kỷ. Đặc biệt sau những lời hứa hoa mỹ của ông tân Bộ Trưởng GD và ĐT năm 2006, nhiều người trong đó có tôi đã đặt niềm tin ngây thơ vào triển vọng công cuộc chấn hưng giáo dục có thể bắt đầu chuyển động. Tiếc thay, hy vọng chưa kịp nhen nhóm thì thất vọng đã mau chóng đến, lần này lo lắng nhiều hơn vì chưa bao giờ giáo dục chạy theo thành tích dễ dãi được quảng cáo ầm ĩ thiếu trung thực lại ngốn nhiều công sức, tiền của mà hiệu quả thấp như 5 năm qua.
May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã tạo một cú hích, it nhất về nhận thức. Sau một thời gian ngắn được ngộ nhận là thành tich đặc biệt của giáo dục, sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của chúng ta. Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã được nghe Thủ Tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ Tướng, y như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát nước chè tươi.
Sau tuyên bố của Thủ Tướng, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra khỏi bế tắc, trì trệ. Trong một buổi làm việc hơn hai giờ vào khoảng giữa tháng 11, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ Trưởng GD và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ. Trước hết hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn GS, PGS, xây dựng đại học đăng cấp quốc tế, v.v.
Tuy nhiên cho đến giờ phút này, nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ Tướng tình hình vẫn im ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân phong kiến hay sao ? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già nua cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi. Đến hẹn lại lên, cả nước lại chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi năm hàng chục vạn học sinh sau 12 năm đèn sách bị ném bơ vơ ra đời, không nghề nghiệp mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên sau 3,4 năm đại học vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp.
Tại sao thanh thiếu niên ta phải chịu thiệt thòi lớn như vây ? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất nước mà giáo dục đến nông nỗi này ?
Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng “cái gì tiền không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được” -- một đất nước như thế thì giáo dục tụt hậu là tất yếu. Suy cho cùng sự nghiệp chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại. Chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích ư ? thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích. Còn mua bằng, bán điểm, chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng đầu, bằng vốn tự có, hay gì gì đó thì đố ai biết qui mô đến đâu. Có điều chắc chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và kèm theo đó, bạo lực học đường chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn, có nguy cở trở thành một nét văn hoá tiêu biểu của xã hội ta hiện nay.
Giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “đổi mới” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công sức tiền của mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí, thường xuyên trục trặc. Trong một thế giới biến chuyển cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức nhối kéo dài hết năm nầy qua năm khác.

Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần tự do, sáng tạo hơn ở đây. Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức tính cơ bản ấy tất nhiên sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như vừa qua không những không có tác dụng mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.
Không đi sâu vào những việc quản lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải công nhận chất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào chi tiết vụn vặt không thực chất.
Thứ nhất là chuyện học và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác. Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời trung cổ ở Châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại trong khi Phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã sớm thế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu cho nhà trường Việt Nam để bước vào kinh tế tri thức thời nay.
Thứ hai là chuyện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hàng năm có hàng chục vạn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu “nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán, ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất it trung cấp kỹ thuật. Cơ cấu đào tạo khiến trong nước rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận xét: chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá nhưng ngay một chiếc đinh vít cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian. Rôt cục chỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công nghiệp hiện đại. Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật đã khuyến cáo: vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ. Cho nên có nhìn rộng ra cả nền kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: sau trung học cơ sở phần lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo hướng không phân ban cứng nhắc mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện nang cao chất lượng đại học . Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh cửa chật hẹp của đại học hiện nay.
Thứ ba là xây dựng đại học. Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học. Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tich phô trương cộng với tính vô trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.
Thứ tư và cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như trong mấy chục năm nay. Khi nói điều này không phải tôi không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi nghĩ số đó vẫn là số ít, số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế này đó thật sự là kỳ công.
Song cái gì cũng có giới hạn, kể cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ, để cho cái lá nho cuối cùng cũng không giữ nổi thì sẽ mất hết, chẳng còn gì để bàn về giáo dục, văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý mới làm tôt được nhiệm vụ. Vậy nên giải quyết cái u nầy là điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc sách hàng đầu. Tuy nhiên cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không minh bạch đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy hiểm.
Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ.
Và một lần nữa xin trân trọng cám ơn Quỹ Văn Hoá Phan Châu Trinh.
Hoàng Tụy

Gs Chu Hảo đề dẫn

Nhà văn Nguyên Ngọc thuyết trình

Tiến sĩ Bùi Trân Phượng thuyết trình

Từ trái qua : Lương Ngọc Toản, Nguyễn Thị Bình, Nguyên Ngọc, Thái Doãn Hiểu

Gs Nguyễn Đăng Hưng thảo luận


Gs Nguyễn Đăng Hưng và Nhà văn Nguyên Ngọc

NguyỄn Đăng Hưng, Thái Doãn Hiểu cùng Bà Hoàng Việt Cộng - cháu ngoại cụ Phan Tây Hồ

Từ phải qua : Chu Hảo, Nguyên Ngọc,Thái Doãn Hiểu, Nguyễn Đăng Hưng.

CHÙM THƠ THÁI DOÃN HIỂU (I)

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011 0 nhận xét




Thái Doãn Hiểu, 1993

Một lần vào năm 1993 tôi đến báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đặt in cái bìa sách Tuyển tập thơ tình bốn phương. Nhà thơ Huỳnh Văn Dung khích tôi “Ông Thái Doãn Hiểu chỉ viết phê bình giỏi khen chê thơ người khác, còn mình thì đếch làm được câu thơ nào”. Tức khí, tôi về nhà rút ngăn kéo ra đưa Dung ba bài Trăng , Có một vì sao, Pháp trường trắng. Dung ném nó vào cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ lúc đó đang rất thanh thế rầm rộ. Bốn ngày sau chùm thơ được in một trang riêng trên báo Văn Nghệ Tp HCM, lọt vào vòng chung khảo. Nhà thơ Hoài Anh gật gù “Không thể tưởng tượng nổi là Thái Doãn Hiểu lại làm thơ trẻ trung đến thế”. À, thì ra, mình cũng là thằng giỏi trong số những người làm thơ nghiệp dư tồi. Từ đó, tại tòa soạn báo xuất hiện cụm từ “thơ ngăn kéo”.

Thơ - đối với tôi là một nghề thật cao sang, cực khó và nghiệt ngã. Suốt hơn 40 năm qua, ngoài việc viết những bộ sách biên khảo và phê bình văn học trường thiên, tôi vẫn âm thần cần mẫn chế thơ cho riêng mình để chơi, ít khi đem đăng báo. Toàn là thơ tự đến, tôi không hề cầu mong. Con số trong anbum thơ đã lên được vài trăm bài. Xin trích một số  trong tâp TÂM CẢM để bạn đọc giải trí cho vui (THÁI DOÃN HIỂU)








CÓ MỘT VÌ SAO

1.

Mắt em ai để
một vì sao xa
Chao, trong sáng thế
Em ơi, phải là…

Ngày kia sẽ rụng
xuống ai - cuối cùng ?
bùng lên vầng sáng
đêm nồng cảm rung.

Rồi đời anh mất
Nhưng tim không tắt
ấp ủ em vào
như sao trong mắt.


2.

Mặt trời cháy nắng
ở trong mắt em
dịu dàng vầng trăng
đậu trên trán em

Ngày mai
Em hỡi
Trăng sẽ trong mắt
Mặt trời sẽ trong tim (1)

                          Nghi lộc, 1967
                          Giảng đường Đại học Sư phạm Vinh
                                              1967-1972


---------------------
·        Bài đăng báo Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh số 109-1993
·        (1) Trùng một ý thơ của thi hào Đức Hainơ. Khi làm bài thơ này, tôi chưa đọc Hainơ.



CẦU VỒNG

Đông - Đoài hai đứa hai nơi
Màn mưa giăng sáng một trời chờ mong
Sau mưa chợt hiện cầu vồng
Bắc bên đoài tới bên đông, lạ kỳ ! (*)

                                  Trường Sơn Đông, 7-1967

----------------------
(*) Bài viết khi cả hai chúng tôi đang tham gia chiến tranh
trong binh chủng Thanh niên xung phong
Bài công bố lần đầu




TRĂNG

                                                          Em trốn vào trăng
                                                          Mở trăng ta tìm
                                                          Gửi HL yêu dấu



Trăng ơi trăng
giữa lòng ta em chiếu
Hai mươi sáu năm rồi anh mới thấy mặt em !

(Hai mươi sáu năm tim ta cháy bỏng
không đêm nào không khát một vầng trăng
Thuở nước cắt chia trăng cùng chung cảnh ngộ
Anh lén hôn thầm em sau cửa khoá cuộc đời)
Trăng đi rồi
anh nhìn theo xa xôi…

Nỗi nhớ nghiêng đêm sâu hút bốn bề
Lòng  rộng mở lắng  nhịp đời trăn trở
Hạnh phúc loài thai đêm vàng chớn chở
Rộn hồi âm sự sống bộn bề.

Anh thấy mùa màng thịnh vương bởi phù sa
Năm tháng chín dần trong đôi  mắt thiết tha
Son sẻ quá mùa xuân cười lên tiếng hát
Như kẻ khát vục lòng trong suối mát
Đất cựa mình hạt giống xôn xao.

Đêm nay như những đêm nao
Lòng anh như thể ngày  nào gặp em
Đêm nay
đêm thần thoại
còi báo yên vừa dứt
Trăng trầm tư cùng trời với đất
Gợi trong ta một ảnh hình xa khuất
Cứ bồn chồn như một nỗi chờ trông
Đêm rất tĩnh bởi có ngày rất động
Trăng dịu dàng thơ thẩn tìm ai
Em mặc áo trăng đi cùng anh
dưới hàng dương xanh lộng gió lành
Anh nắm tay em im lặng
bồi hồi nghe tình ta lên hương !

Em đến với anh như ngọn đèn thắp lên mỗi tối
Em đi bên anh như ngôi sao không lạc lối
Như lương tâm luôn đi bên phải cuộc đời
Rộn rịp lòng anh ngày cưới
Tình yêu ta đốt lửa tâm hồn.

Đêm thẳm sâu lắng dòng đời náo nức
Một tiếng bom gầm vỡ nát không gian
Nhưng chẳng làm cau gương mặt em bình thản
Trong êm ả tột cùng của bát ngát cao xanh.(*)

                                                        Đồi Triều Dương, Mỹ Sơn,
                                                         Đô Lương đêm 28-4-1969
                                                         Đà Lạt mờ sương, 10-3-1978

Cái thuở ban đầu..., 1970


-------------------------
(*)  Sau khi một tiểu đội anh hùng TNXP hy sinh ở cửa tử Truông Bồn, Đại đội 325 của tôi được điều về thay thế. Một buổi chiều toàn đại đội tập trung san lấp một hố bom lớn ngay trước cửa Truông xong, vừa rời khỏi hiện trường 9 phút thì ngay chổ đó một quả bom tấn phát nổ, cả trăm mạng người suýt bị xóa sổ, trong đó có tôi. Đêm ấy, tôi độc hành trèo lên đồi Triều Dương, dưới ánh trăng sáng vằng vặc, ngồi một mình giữa trời khuya, pháo sáng đốt lựng trời, tiếng bom chốc chốc gầm lên làm vỡ nát cả không gian. Lòng tôi đầy ưu tư, rất nhớ người yêu cách 4 km ở một đơn vị TNXP khác, nên viết bài thơ này để vơi nỗi nhớ. Sáng hôm sau, tôi nhờ cô y tá Mai chuyển cho Hoàng Liên khi lên công tác ở ban chỉ huy Đội. Tối hôm đó, nàng lò dò cuốc bộ đến Truông Bồn thăm tôi với một câu thương cảm “Đọc bài thơ thương anh quá”.
Bài in lần đầu trên báo Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh số 109 năm 1993.
Sau đó, Tuyển tập thơ tình bốn phương, nxb Trẻ 1994



NỤ  CƯỜI

Mùa xuân rền bom đạn
Sinh con giữa chiến trường
Con là mầm là nụ
Trong lòng cha rưng rưng

Con vừa mới nửa tuổi
Tóc cha đã điểm sương
Trường Sơn mẹ nằm  lại
Bốn mùa sương trắng vương

Để ngăn cha khỏi khóc
Con nở một nụ cười !

                               Đồng Thành, 1972




TÂM SỰ NGUYỄN DU            


Nguyễn Du viết Truyện Kiều
Là để trút cả bầu tâm sự :
"Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ" (1)
(Ta có một tấc lòng không biết ngỏ cùng ai).

     Thúy Kiều hai lần mặc áo xanh con ở
     Hai lần làm kỹ nữ chốn yên hoa
Liệt nữ không thờ hai chồng
Bắt phong trần phải phong trần
Đoạn trường thế ấy còn vần chưa tha.

Cậu ấm Nguyễn sớm bị rứt ra khỏi màn loan trướng huệ
Ném vào cát bụi phong ba.
Tôi trung không thờ hai chúa
Vị cựu thần nhà Lê
Lại áo mão rềnh rang giữa vương triều Nguyễn
Tránh sao tiếng lao xao đàm tiếu của người đời ?

Hai cảnh ngộ một tâm tình chìm nổi
Kiều là Nguyễn Du, Nguyễn cũng là Kiều
Mượn số kiếp nàng Kiều mà cảm thương thân thế
Nguyễn khóc Kiều là khóc chính cho ông
Nguyễn chiêu tuyết Kiều là chiêu tuyết cho ông.

Khoanh tay trông trời
Rủ áo nhìn đất
Nguyễn chỉ lặng im "Vâng ! Dạ !"(2) 
Nguyễn vật lộn gian nan cùng chữ "tiết"
Giữ vẹn tấm cô trung hay làm một kẻ sĩ thức thời !?

"Ta có một tấc lòng không biết ngỏ cùng ai "?
Tôi chợt hiểu ra mới ngoài ba mươi tuổi
Mái đầu Người đã trắng xóa như mơ ! (3)


Tiên Điền, 8-10-1999
Bên bờ sông Tiền Đường, 15-7-2005 
Tuyển tập 700 năm thơ Huế, H. Thuận Hóa 2007   -http://www.khoinguon.org/


--------------------

(1)               Thơ chữ Hán của Nguyễn Du
(2)               Có lần, Nguyễn Du bị vua Minh Mạng quở :"Nhà nước dùng người cốt chọn người tài giỏi. Ngươi cùng Ngô Vỵ đã được cân nhắc lên hàng á khanh, biết thì thưa thốt, sao  lại khoanh tay chỉ biết dạ dạ vâng vâng". Niềm u uất này kéo dài cho đến tận chết. Trước khi qua đời, vì bị nhiễm bệnh dịch tả từ Xiêm (Thái Lan) truyền sang, Nguyễn Du sai người nhà sờ lên người ông. Người nhà thưa : "Đã lạnh đến đầu gối". Ông bảo "Được, được" rồi tắt thở, không trối lại điều gì. Ông chết  trong cô đơn không ai vấn tang, đưa tang, lấy cớ sợ bệnh truyền nhiễm. Vua Minh Mệnh chỉ đưa đồ phúng, không viếng. Mạn tang, Nguyễn Ngữ - người con trai thứ 4 đưa hài cốt cha về táng dưới chân núi Hồng.
(3)               Chi tiết này có chép trong Gia phả họ Nguyễn ở Tiên Điền

Xin xem thêm lời bình :
Tâm sự Nguyễn Du




NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN

                                          Tưởng nhớ Mẹ

Mẹ hiền nuôi tằm dệt lụa
dạy ta bài học làm văn
Con tằm ăn dâu suốt tháng
nhả tơ vàng óng một giờ.

                                    Sài Gòn, 6-1993





PHÁP TRƯỜNG TRẮNG

Nỗi dày vò đau đớn của tôi
là mỗi tối
khi ngồi vào bàn viết
tim tôi liền bị đưa ra pháp trường :
Thật cưới Giả
Chánh ở lẫn Tà
Đen hóa Trắng
Ông biến thành Thằng
Thiện ăn nằm cùng Ác
Chân lý phiêu linh trong đêm
Chập chờn máu khóc đầu bút
(Nỗi đau này chẳng phải của riêng tôi)

Nỗi đau này dồn xuống một mình tôi
Chỉ có một người
một người thôi
biết băng bó
và làm vết thương tôi thôi chảy máu
Nhưng biết tìm đâu
tìm đâu
Cho ra người ấy… ơi người (*)


-------------------
(*) Cảm hứng khi viết Âm vang của tiềm thức. Đây là lời ĐỀ TỪ của thiên tự truyện này. Lần đầu tiên in trên báo Văn Nghệ Tp Hồ Chí Minh số 109-1993.



KIẾM TÌM


Người người đổ xô tìm vàng
Giành nhau lừa nhau giết nhau
Những kẻ giàu, no -  hợm
mắt tối sầm
Những người đói, rách, câm
vàng sáng - hận

Luân lạc giữa cuộc người
tôi đi tìm… tôi
dưới từng trang viết
dày lên theo tháng năm


Cuộc kiếm tìm sẽ khó mà kết thúc
Khi qua tôi chưa ai nhận ra mình (*)


--------------
(*) ĐỀ TỪ tác phẩm GIAI THOẠI KẺ SĨ VIỆT NAM, Nxb Văn Hóa Dân tộc, Hà Nội 1997.



HOA MÔI EM


Em lặng lẽ ra đi
để lại nơi ngôi nhà của hồn anh
hóa đá một nụ cười bí hiểm
hồn nhiên
trinh trắng

Từ đó
hoa môi em
cứ nở hoài
trong tĩnh lặng

*

Vẫn đôi mắt nặng nắng màu nhiệt đới
Trong bóng râm hàng mi rợp mát tươi cười
Anh nhìn thấy cả đất trời
Và hy vọng chói ngời lên trong đó
Ôi những ngày lòng ta mưa gió
Đã qua rồi. Nay đến tiết thanh minh.

                                            Đô Lương, 7-1969
                                            Quỳnh Lưu, 1970





ÂU YẾM

                         Tặng Hoàng Liên

Em là cái dằm
xuyên giữa ngực anh
nhức nhối

Em là họa mi
trong hồn đêm
thánh thót

Em là Quán Thế Âm Bồ Tát
trong ngôi chùa anh
tĩnh lự thiền

Em là cánh chim tìm về tổ ấm
côi cút hoàng hôn
bơ vơ ký ức buồn

Em: Tử Kỳ - anh: Bá Nha
suốt đêm thâu
rì rầm to nhỏ chuyện xưa sau

Em bao la lòng mẹ
giang cánh đại bàng
chở che khi anh lâm nạn.

Chính Em - bông sen vàng
nở trong tâm thức anh
thơm ngát

Em là giáo đường
chuông chiều thỉnh
ngân nga

Em là …

Sáng, Em mở mắt ra – mặt trời ló rạng:
                       một ngày mới của anh bắt đầu
Đêm, Em khép làn mi cho nửa vầng trăng anh thức
Trái đất mênh mông không chứa nổi em
Thế mà anh lại nhốt được em trong tim này bé xíu.

                                                                           Xuân, 1999


Đêm, Em khép làn mi cho nửa
vầng trăng anh thức, 2000




CỐ HƯƠNG

                                                   Tạo hóa dường như buộc chân chúng ta
                                               vào quê hương bằng những sợi dây vô hình
                                                                                          SATÔBRIĂNG


Cha mẹ mất anh em tứ tan
Ngàn dặm con về đưa Mẹ lên đồi cao
Gió lộng trời xanh cây biếc
Mặt hồ ôm núi ngủ mơ
Cha Mẹ bình yên nghỉ trong lòng đất
Sau một đời sống nhân nghĩa cần lao
Hài cốt của Người làm nên Tổ quốc !

Tôi lục tìm từng cọng sim búi cỏ
Tuổi thơ mình vướng víu đâu đây ?
Dẫu đã đi qua nghìn sông núi
Mảnh đất nhỏ xíu này không dứt khỏi đời tôi.

Đêm, ngủ lại ngôi nhà xưa
Êm ấm một thời…
Này cha, này mẹ, này chị này anh
Đi về rày những lối này (1)… chiêm bao
Giờ cổng nghẹn rào gai lấp
Cỏ dại chen chúc lấn sân, ngợp cả hồn
Mùi ẩm mốc ấu thơ quyện tiếng trùng rỉ rả.

Se sẽ đặt bàn tay lên vai cháu nhỏ :
- Bánh xe đời lăn theo đường của nó
Hoang phế chỗ  này, thịnh vượng nơi kia
Hoài cảm mà làm chi ? (*)

                                                          Làng Yên Thế, Thịnh Sơn, Đô Lương
                                                                                     Nghệ An, 16-8-1995

--------------------------------
(1)   Nhại Kiều
(*) Bài đã đăng báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số …1998



TẠ LỖI CỐ NHÂN

                         Ai cũng có một thời để yêu để nhớ
                         Ai cũng có những phút giây ngoài vợ ngoài chồng
                                                                      THUẬN HỮU


 Thời trẻ
Anh rất sợ các nàng làm hỏng mất sự nghiệp của mình
Nên trước cái ào ạt đắm say của sóng nghiền bờ đá
Anh đã phải vọt lên để khỏi chết chìm trong lòng biển thẳm của em

Từ đó, ta lạc mất nhau
Em đi lấy chồng cho xong thân thế
Anh độc hành kiếm cái… hư vô !

Ba mươi năm sau
Khi trên giấy anh đã xây được đền đài văn hóa
Ngoảnh lại thì em đã cách xa
Thương lắm lạc loài cánh hoa
Lênh đênh trôi dạt bến nào
Ơi nàng tiên nhỏ
Phía hoàng hôn cứ rực lên.

Đến cố đô tìm lại cố nhân
Vượt qua Đập Đá anh tìm
Vỹ Dạ xanh xanh tre trúc
Mơ màng thấp thoáng mặt ai

Mối yêu đến giờ đã cạn
Lửa tình nồng đượm đêm sâu
Bao năm sống bằng tâm tưởng
Gặp rồi thật sự mất nhau !

Em chính là một thiên thạch
Xẹt qua bầu trời đời anh
Gửi lại hằng hà mảnh vỡ
Lả tả rơi hoài rỗ mặt thời gian.

                                           Huế, 13-8-1995
                             (Nguồn : Tuyển tập 700 năm thơ Huế,
                                          H.Thuận Hóa 2007)

Xin xem thêm lời bình :
Tạ lỗi cố nhân




ĐÙA CÙNG VỢ


(1)

Em ơi, ngày xưa khi tình ta thành keo sơn
Với anh – em là một nhà thi sĩ lớn !

Rồi con chúng mình lần lượt ra đời
Em nghiễm nhiên thành một nhà số học xịn !

Và bây giờ bóng xế ta nên ông nên bà
Em bỗng đại ngôn như một nhà văn xuôi chính luận !

                                                      Biên Hoà – Sài Gòn, 1986

(2)

Khi em vắng nhà
Công việc ba tháng anh làm xong một tuần !
Khi em ở nhà
Công việc một tuần anh làm trong ba tháng !
                                                                 
                                                               Hương Viên Các,1993

(3)

Nhà ngục của tôi ơi
Em – tên cai tù
cả tín

                                                 Sài Gòn, 4-1995



TẦM  NHÌN

Khi Anhxtanh với “Thuyết tương đối” xuất hiện
Lắm kẻ ngoác mồm ném chữ chửi “thằng điên”
Thế tục này chẳng thiếu lũ khùng
Thường kết án những gì vượt quá tầm của chúng.


THẺ

Nguyễn Du đâu có thẻ hội
Mà sao Nguyễn viết hay ghê
Nay có khối người mang thẻ
chỉ bôi bẩn giấy mà thôi !


CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC

Chó cứ sủa, người  thung dung tiến bước
Kẻ sĩ hướng tới ngàn năm sau lo việc
Thỉnh thoảng dừng chân để nghe tiếng rú
Thì làm sao ta đi hết đường dài ?


CHUYỆN CÂY BẠCH ĐÀN
                     VỚI CHIẾC RÌU

Lòng độ lượng của Con Người
giống như cây gỗ bạch đàn Ấn Độ
ướp thơm lưỡi rìu
từng chém phập vào thân thể nó ! (*)

                                                 Sài Gòn, 10-2-1998

BÁN – MUA

Ai bán - tôi mua
Ai mua - tôi bán

Ở giữa chợ đời
chỉ có hai loại người
có bán và không.

                         Chợ Lớn, 14-9-1993


TRÔNG

Nửa đêm bừng tỉnh dậy
mới hay mình ngủ chay !
Hương Viên sương xuống ướt
Anh dưới mảnh trăng gầy.

                    Viết trên Hương Viên Các
                           2h sáng ngày  .  2004.

Đám cưới bạc
Sau 30 năm chung sống, 2000


……………….
Lần ấy nhà tôi ra Bắc thăm viếng bà con nội ngoại, tôi ở một mình ở nhà viết Hương Viên Các (Gò Vấp). Suốt tháng ngồi viết sách và nhá toàn bánh mì với đồ hộp.
Thiếu các bà thì gay quá. Có một đêm sực tỉnh dậy khi 2 giờ sáng, không tài nào ngủ lại được, tôi lên Vườn Thơm tr ên sân th ượng ngồi trầm tư, tiện bút đề vào tháp nước mấy câu. Qua điện thoại, tôi đem tâm sự này kể với bạn Lữ ở Hà Nội.và không quên đọc mấy câu thơ thẩn ấy. Lữ cho hay Hoàng Liên đang vui thú với bạn bè ở Tam Đảo.Ba ngày sau, tôi thấy n àng bay vào, lù lù xuất hiện tại nhà với một câu mắng yêu “ Làm hỏng cả cuộc chơi của người ta”. Ôi ! Văn chương qủa cũng có ma lựcđấy chứ !?.



SỰ THẬT

Bài nói dứt trên diễn đàn
Hội trường vỗ tay như sấm
Trong rền vang tiếng hoan hô
Có những cú thoi quả đấm



TỰ THÚ

Xưa,
Trái tim tôi to mà đầu thì bé
Nay,
Trái tim tôi bé, cái đầu lại to.



THUỐC

Ngang trái sự đời lận đận
Tôi lên Nghĩa trang Trường Sơn
Gặp mặt đủ đồng đội cũ
Sóng  lòng bỗng tự dẹp yên

                          Nghĩa trang Trường Sơn, 1999



NHÂN LUÂN

                       Kẻ chết sẽ đứng dậy
                       Sự sống sẽ trở về
                               Kinh  AVEĐA



Từ hư vô mẹ đến
Mẹ tạo ra con
Mẹ đẻ ra Đời

Chớp mắt
hóa thân trong đất
Mẹ lại về với cõi hư vô !

                         Ngày mẹ từ trần, 1991





CON MỒI

Nụ cười là cái bẫy
Giăng giữa chiều hoang sơ
Dại khờ anh qua đấy
A ! Tóm được gã làm thơ. (*)

---------------------------
(*) Bài đã đăng tạp chí Tài hoa Trẻ, 1998, báo Giác Ngộ số … 2001.


CHÂM NGÔN SỐNG VÀ VIẾT

Tôi viết phê bình là để làm sáng giá và sang giá tác giả, tác phẩm văn học.

HOÀNG NGỌC HIẾN

Mỗi ngày gặp một người, họ là mảnh của thiên tài nhân loại. Hãy nhặt những chữ của đời mà viết nên trang.

CHẾ LAN VIÊN

Sở dĩ tôi nhìn được xa trông được rộng là bởi tôi đứng trên vai những người khổng lồ.

NIU TƠN