"Tôi trước tác là để phổ biến tâm thuật chứ không phải để kiếm danh lợi." THÁI DOÃN HIỂU
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHẢO CỨU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHẢO CỨU. Hiển thị tất cả bài đăng

TINH THẦN KHAI SÁNG CỦA PHAN CHÂU TRINH

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011 0 nhận xét

Bài và ảnh THÁI DOÃN HIỂU



8h -11 h thứ 4, ngày 23-3-2011 tại Trường Đại học Hoa Sen, cơ sở II, số 2, Tản Viên, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra  cuộc hội thảo trọng thể kỷ niêm 85 năm ngày mất của  nhà ái quốc Phan Châu Trinh. Đơn vị tổ chức : Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, Đại học Hoa Sen và Nhà xuất bản Tri thức.

Đông đủ giới trí thức, các giáo sư, nhà nghiên cứu, nhà văn, sinh viên đã đến dự.

Hội nghị đã được nghe lời phát biểu chào mừng của bà Nguyễn Thị Bình - Chủ tịch Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh.

Các cử tọa đã lắng nghe Giáo sư Tiến sĩ Chu Hảo đại diện Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh giới thiệu chi tiết về các hoạt động của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, hệ thống giải thưởng năm 2010

Diễn giả chính của  chương trình là nhà văn Nguyên Ngọc. Ông đã thuyết trình bài viết Xây dựng con người tự chủđể, dân tộc tự chủ, chương trình vĩ đại bị dang dở của Phan Châu Trinh trong thời đại mới.

Tiếp đến Tiến sĩ sử học, Hiệu trưởng trường Đại học Hoa Sen Bùi Trân Phượng thuyết trình bài Tinh thần Phan Châu Trinh – Tinh thần xuyên thế hệ.

Cả hai bản báo cáo đều sâu sắc, hiểu đúng bản chất của Phan Châu Trinh về khai dân trí, chấn hưng khí, hậu dân sinh, rất mới mẻ trên tinh thần tiếp thu di sản cha ông trong tinh thần vận động của lịch sứ và thời đại

&

Tối 24.3, lễ trao Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh đã được tiến hành trọng thể tại khách sạn Rex, TP.HCM. Kể từ năm nay, lễ trao giải sẽ được tổ chức hằng năm đúng vào ngày 24.3 - ngày giỗ của nhà yêu nước, chí sĩ Phan Châu Trinh. Giải thưởng này vốn là một tập hợp các giải thưởng văn hoá tập trung vào bốn lĩnh vực: giáo dục, nghiên cứu, dịch thuật và Việt Nam học.
Theo nhà văn Nguyên Ngọc - chủ tịch Hội đồng Khoa học Giải thưởng Phan Châu Trinh, Hội đồng Giải thưởng đã chọn được sáu nhà nghiên cứu và dịch giả để trao Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh năm 2010. Trong đó có hai nhà nghiên cứu nước ngoài là Giáo sư, dịch giả văn học, nhà thơ Kevin Bowen (Mỹ) và TS. ngôn ngữ học Ivo Vasiljev (CH Séc). Kevin Bowen là nhà thơ, nhà văn Mỹ, được xem như người mở đường cho văn học Việt Nam vào Mỹ qua việc tổ chức dịch nhiều tác phẩm thơ, văn xuôi Việt Nam… còn TS Ivo Vasiljev là người dịch tác phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Séc, tác giả cuốn sách Nghiên cứu về di sản Việt cổ (Prague 1990).
Giải Phan Châu Trinh 2010 vinh danh GS. Hoàng Tuỵ (giáo dục), nhà phê bình Lại Nguyên Ân (nghiên cứu), dịch giả Phạm Văn Thiều và Nguyễn Đôn Phước (dịch thuật).
GS Hoàng Tụy được coi là “cha đẻ của tối ưu toàn cục” với những thuật ngữ mà bất cứ ai trên thế giới muốn đi vào chuyên ngành này đều phải học như Tuy’s cut (lát cắt Tụy), Tuy-type algorithm (thuật toán kiểu Tụy), Tuy’s inconsistency condition (điều kiện không tương thích Tụy)...

Cùng nhận Giải thưởng Phan Châu Trinh 2010 là nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Giải thưởng về nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu văn bản học
- được mệnh danh là người trục vớt các di sản văn hóa..           

Dịch giả Phạm Văn Thiều nhận Giải Dịch thuật với những cuốn sách phổ biến tri thức khoa học ở các lĩnh vực vật lý, thiên văn, toán học. Dịch giả Phạm Xuân Thiều hiện đang công tác tại Viện Vật lý thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Hội Vật lý Việt Nam. Ông đồng thời Phó Tổng thư ký Hội Vật lý Việt Nam kiêm Tổng Biên tập tạp chí Vật lý & Tuổi trẻ
           

Giải Dịch thuật còn được trao cho dịch giả Nguyễn Đôn Phước với các tác phẩm về kinh tế kinh điển như: Từ điển thuật ngữ kinh tế, NXB Tri thức, 2007; Giải Nobel kinh tế, NXB Tri thức; Kinh tế học môi trường, NXB Trẻ, 2008..
            .

Hai ông
Ivo Vasiljev và Kevin Bowen được vinh danh với Giải Việt Nam học. Ông Ivo Vasiljev đã thực hiện luận văn tiến sĩ về: Ngữ pháp Hán – Việt trong tiếng Việt chuẩn hiện đại, tại Viện Đông Phương, Viện Hàn lâm Czech và Slovak về Khoa học năm 1964. Ông là tác giả của cuốn sách Nghiên cứu về di sản Việt cổ  (Prague 1990), một nghiên cứu lịch sử về người Việt. Ông đã xuất bản các nghiên cứu về ngôn ngữ học typo, về chức năng của ngôn ngữ trong các tộc người, về chủ nghĩa đa ngôn ngữ, lịch sử di dân. Ông cũng đã viết rất nhiều về văn hóa Đông Nam Á.         

Ông
Kevin Bowen là nhà thơ, dịch giả, giám đốc Trung tâm William Joiner – Nghiên cứu về Chiến tranh và Hậu quả xã hội, thuộc Đại học Massachusetts, Boston. Ông là tác giả của ba tuyển tập thơ: Playing Basketball with the Viet Cong, Forms of Prayer at the Hotel Edison, và Eight True Maps of the West. Ông là đồng chủ biên một vài hợp tuyển về văn và thơ, bao gồm: Writing Between the Lines: An Anthology on War and its Consequences, Mountain River: Vietnamese Poetry from the Wars, Distant Road: Selected Poems of Nguyen Duy, Six Vietnamese Poets,  và Early Zen Poems from Vietnam.

Theo thông tin từ Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh, năm nay là kỷ niệm 85 năm ngày mất của nhà văn hóa Phan Châu Trinh. Ngoài việc trao giải thưởng niên, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh còn tổ chức một số hoạt động kỷ niệm như: xuất bản hai cuốn sách Diễn từ nhận giải Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh (2007 – 2010) và Hoàng Tụy, Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng.


Trong lời đáp,  bài diễn từ của giáo sư Hoàng Tụy gây ấn tượng nhất. Chúng tôi xin đăng kèm dưới đây:

Vì một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại
Hoàng Tụy

Thật là vinh dự lớn cho một người làm khoa học bình thường như tôi được nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh cao quý. Vinh dự lớn trước hết vì giải thưởng gắn liền với tên tuổi một nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc, một sĩ phu thuộc lớp cựu học nhưng đã thoát ra khỏi những quan niệm giáo dục phong kiến cổ hủ đương thời, khởi xướng đường lối canh tân văn hoá, giáo dục để cứu nước: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Vinh dự lớn còn là không phải giải thưởng hay huân chương trong hệ thống hành chính Nhà Nước mà là giải thưởng được trao cho bởi một tổ chức xã hội dân sự, với ý nghĩa cao quý thúc đẩy sự nghiệp văn hoá giáo dục của nước nhà theo tinh thần khai sáng của nhà ái quốc vĩ đại.



Làm khoa học ở một đất nước nghèo khó tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo trung học rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tich cũng ngày càng đa dạng. Được may mắn (chứ không phải rủi ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường đại học khoáng đạt hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới nên tôi thường có dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Hồi còn anh Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại Học tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và trình bày về tư duy hệ thống trong các xêmina giáo dục do anh ấy chủ trì. Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế xã hội ngay từ những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó cho nên ít nhiều cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự vật chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.



Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất.
Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém tụt hậu như hiện nay thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7-8%, thậm chí 10% năm chăng nữa đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ. Muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu mà để giáo dục yếu kém thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: thắng trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây ông đại sứ Hoa Kỳ sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một điều mà từ nhiều năm rồi ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng thì mới cầu tới Bụt ngoài.
Cho nên dù nhiều người đã nói nhiều lần rồi tôi cũng xin nhắc lại lần nữa: chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển hiện nay của xã hội ta là giáo dục. Giáo dục và giáo dục, không có gì quan trọng hơn. Và vì vậy cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện và triệt để là mệnh lệnh cuộc sống. Càng chần chừ, càng trì hoãn càng trả giá đắt, và không loại trừ đến một lúc nào đó sẽ là quá trễ như đã từng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới.
Đó là nội dung thiết yếu hai bản kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung Ương Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ năm 2004 và năm 2009 (bản Kiến nghị 2004 đã được phổ biến rộng rãi, còn bản Kiến nghị 2009 chưa được nhiều người biết do bị hạn chế phổ biến).
Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15 năm từng có nghị quyết lịch sử của Hội Nghị TƯ II, khoá 8, xem phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng mười năm sau đó, Thủ Tướng Chính Phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại Hội X và ba Hội Nghị TƯ sau đó đều nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài mấy thập kỷ. Đặc biệt sau những lời hứa hoa mỹ của ông tân Bộ Trưởng GD và ĐT năm 2006, nhiều người trong đó có tôi đã đặt niềm tin ngây thơ vào triển vọng công cuộc chấn hưng giáo dục có thể bắt đầu chuyển động. Tiếc thay, hy vọng chưa kịp nhen nhóm thì thất vọng đã mau chóng đến, lần này lo lắng nhiều hơn vì chưa bao giờ giáo dục chạy theo thành tích dễ dãi được quảng cáo ầm ĩ thiếu trung thực lại ngốn nhiều công sức, tiền của mà hiệu quả thấp như 5 năm qua.
May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã tạo một cú hích, it nhất về nhận thức. Sau một thời gian ngắn được ngộ nhận là thành tich đặc biệt của giáo dục, sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của chúng ta. Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã được nghe Thủ Tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ Tướng, y như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát nước chè tươi.
Sau tuyên bố của Thủ Tướng, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra khỏi bế tắc, trì trệ. Trong một buổi làm việc hơn hai giờ vào khoảng giữa tháng 11, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ Trưởng GD và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ. Trước hết hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn GS, PGS, xây dựng đại học đăng cấp quốc tế, v.v.
Tuy nhiên cho đến giờ phút này, nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ Tướng tình hình vẫn im ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân phong kiến hay sao ? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già nua cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi. Đến hẹn lại lên, cả nước lại chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi năm hàng chục vạn học sinh sau 12 năm đèn sách bị ném bơ vơ ra đời, không nghề nghiệp mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên sau 3,4 năm đại học vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp.
Tại sao thanh thiếu niên ta phải chịu thiệt thòi lớn như vây ? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất nước mà giáo dục đến nông nỗi này ?
Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng “cái gì tiền không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được” -- một đất nước như thế thì giáo dục tụt hậu là tất yếu. Suy cho cùng sự nghiệp chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại. Chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích ư ? thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích. Còn mua bằng, bán điểm, chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng đầu, bằng vốn tự có, hay gì gì đó thì đố ai biết qui mô đến đâu. Có điều chắc chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và kèm theo đó, bạo lực học đường chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn, có nguy cở trở thành một nét văn hoá tiêu biểu của xã hội ta hiện nay.
Giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “đổi mới” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công sức tiền của mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí, thường xuyên trục trặc. Trong một thế giới biến chuyển cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức nhối kéo dài hết năm nầy qua năm khác.

Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần tự do, sáng tạo hơn ở đây. Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức tính cơ bản ấy tất nhiên sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như vừa qua không những không có tác dụng mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.
Không đi sâu vào những việc quản lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải công nhận chất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào chi tiết vụn vặt không thực chất.
Thứ nhất là chuyện học và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác. Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời trung cổ ở Châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại trong khi Phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã sớm thế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu cho nhà trường Việt Nam để bước vào kinh tế tri thức thời nay.
Thứ hai là chuyện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hàng năm có hàng chục vạn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu “nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán, ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất it trung cấp kỹ thuật. Cơ cấu đào tạo khiến trong nước rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận xét: chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá nhưng ngay một chiếc đinh vít cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian. Rôt cục chỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công nghiệp hiện đại. Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật đã khuyến cáo: vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ. Cho nên có nhìn rộng ra cả nền kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: sau trung học cơ sở phần lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo hướng không phân ban cứng nhắc mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện nang cao chất lượng đại học . Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh cửa chật hẹp của đại học hiện nay.
Thứ ba là xây dựng đại học. Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học. Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tich phô trương cộng với tính vô trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.
Thứ tư và cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như trong mấy chục năm nay. Khi nói điều này không phải tôi không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi nghĩ số đó vẫn là số ít, số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế này đó thật sự là kỳ công.
Song cái gì cũng có giới hạn, kể cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ, để cho cái lá nho cuối cùng cũng không giữ nổi thì sẽ mất hết, chẳng còn gì để bàn về giáo dục, văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý mới làm tôt được nhiệm vụ. Vậy nên giải quyết cái u nầy là điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc sách hàng đầu. Tuy nhiên cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không minh bạch đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy hiểm.
Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ.
Và một lần nữa xin trân trọng cám ơn Quỹ Văn Hoá Phan Châu Trinh.
Hoàng Tụy

Gs Chu Hảo đề dẫn

Nhà văn Nguyên Ngọc thuyết trình

Tiến sĩ Bùi Trân Phượng thuyết trình

Từ trái qua : Lương Ngọc Toản, Nguyễn Thị Bình, Nguyên Ngọc, Thái Doãn Hiểu

Gs Nguyễn Đăng Hưng thảo luận


Gs Nguyễn Đăng Hưng và Nhà văn Nguyên Ngọc

NguyỄn Đăng Hưng, Thái Doãn Hiểu cùng Bà Hoàng Việt Cộng - cháu ngoại cụ Phan Tây Hồ

Từ phải qua : Chu Hảo, Nguyên Ngọc,Thái Doãn Hiểu, Nguyễn Đăng Hưng.

LÀNG VẠC - PHẾ ĐÔ NƯỚC ÂU LẠC !?

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010 4 nhận xét


Nhà bia tại khu khảo cổ di chỉ làng Vạc






THÁI DOÃN HIỂU


Kinh đô nước Âu Lạc của Thục An Dương vương ở chỗ nào ? Đó là một thắc mắc lớn làm xốn xang lòng tôi  từ ngày bước chân lên bục giảng  thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thủy  cho các học trò xứ Nghệ  – nơi xẩy ra thảm kịch  nước mất nhà tan của vị vua viễn tổ khai sáng nước ta. Từ đầu thập niên thứ 6 của thế kỷ trước (cách đây đúng 50 năm), tôi trăn trở cố công đi tìm, tìm mãi, rồi cuối cùng  cũng tìm ra…
Bài viết này ghi lại cuộc trò chuyện giữa tôi THÁI DOÃN HIỂU và nhà viết tiểu thuyết lịch sử THÁI VŨ ngày 29-8-1986 về vấn đề trên. Do bận bịu làm các công trình văn hóa lớn, tôi quên khuấy đi mất. Hôm nay, sau vừa đúng một phần tư thế kỷ, tình cờ lục tìm được nó trong đống bản thảo tưởng thanh lý ném cho ve chai. Thấy bài viết vẫn còn nguyên giá trị khoa học, tôi cập nhật thêm một số thông tin mới từ cuộc điền dã ở cố hương Nghệ An hè 2008, xin gửi tặng Thái Vũ để nối lại tình bạn văn của chúng ta đã bị gián đoạn suốt 23 năm nay kể từ năm 1987. Xin liên lạc về : Web: thaidoanhieu.blogspot.com; Email: hieu.thaidoan@gmail.com;  Mob: 01 287 793 354;  Máy bàn : (08) 22 194 879 (TDH)

*

Vào cuối thu 1986, khi viết xong tiểu thuyết Tình sử Mỵ Châu, nhà văn nổi tiếng Thái Vũ đưa bản thảo dày cộp cho tôi.
-         Cậu đọc và cho mình xin  ý kiến.
Tôi đọc xong  rất nhanh (chuyện tình mà)  và Thái Vũ choáng váng nhận được một câu phán xanh lè.
-         Sai toét. Thế mà cũng đòi viết tiểu thuyết lịch sử !
Lão nhà văn rất đỗi ngạc nhiên, nhướng cái mặt già chát thiếu ngủ thách thức :
-         Làm sao sai, cái cậu này, láo ?  
Tôi cật vấn, khéo léo đưa nhà văn vào tròng.
     - Cụ có thừa nhận thành Cổ Loa ở Đông Anh - kinh đô nước Âu Lạc  của Thục An Dương vương và đền Công ở Diễn An, huyện Diễn Châu, Nghệ An (cách tp Vinh 30 cây số về phía Bắc) - nơi tử nạn “cơ đồ đắm biển sâu” của cha con An Dương vương - Mỵ Châu  là những địa danh lịch sứ có thực tồn tại trên hai ngàn năm nay ?

-         Vâng, tớ thừa nhận - Thái Vũ quả quyết. Thì sao nào ?
-         Cụ có biết thành Cổ Loa ở Đông Anh cách đền Công, Diễn An bao xa?
-          Khoảng độ trên 300 cây số - nhà văn già lẩm nhẩm tính toán.
-         Vâng, chính xác theo đường số Một hiện nay là 294 km. Trong lịch sử, người ta dùng ngựa để chuyển thư từ bưu phẩm, cứ mỗi trạm 20 km họ lại thay ngựa một lần, nếu không ngựa sẽ đứt ruột mà chết. Xin hỏi lão gia có con tuấn mã nào kham nổi trên lưng nó một sức nặng 120 ký chở  phụ hoàng và công chúa chạy như cướp đường bởi quân giặc hò reo truy sát  sau lưng một quãng đường dài vậy không? Đó là phi lý thứ nhất.
  Thái Vũ  thừ mặt ra.
-         Trên dặm đường chạy giặc thiên lý đó có hai con sông lớn sâu và rộng là sông Hồng và sông Mã, chưa kể hàng trăm sông rạch chằng chịt. Vậy xin hỏi tiểu thuyết gia ai bắc cầu phà cho họ vượt qua ? Đó là cái phi lý thứ hai.
Thái Vũ ngồi thuẫn ra, nao núng.
-         Đến khi Trọng Thủy tìm được xác Mỵ Châu trên bãi biển núi Dạ Sơn, Diễn An, hắn cắp  nàng lên ngựa, đưa về  Cổ Loa.  Dưới ánh nắng gắt của mặt trời nhiệt đới, cái xác Mỵ Châu sẽ phân hủy rất nhanh. Thưa ngài liệu cái anh chàng si tình Trọng Thủy ấy có thể ôm khư khư cái xác thối rữa hàng nửa tháng trời để về an táng ở Cổ Loa được không ?  Đó là cái phi lý thứ ba.
Đến đây, Thái Vũ  thấy rõ các chi tiết sách của mình quá hớ hênh. Lịch sử đâu phải là cái đinh đóng lên tường để cho Đuyma Cha tha hồ mắc áo. Truyền thuyết gì thì cũng không thể mặc sức tưởng tượng phi thực tế đến thế.
-         Vậy theo cậu, trong hai địa danh kia tất có một cái ảo ? Thái Vũ hoang mang !
-         Có một cái thực, cụ ạ, là đền Công ở núi Mộ Dạ. Tôi kể cụ nghe nhé : Tương truyền nơi hai cha con đức vua tử nạn thuở ấy rừng rú hoang sơ sát biển, chiều chiều trong bóng hoàng hôn  chập choạng, chim công rực rỡ xống áo từng đoàn ra múa may hoan lạc trong thế giới riêng của nó, thành thử mới có tên chữ là núi Mộ Dạ và tên Nôm là Cuông (công đọc trại ra). Nhân dân Âu Lạc thuở đó đã  lặng lẽ dựng nên ngôi đền thiêng thờ phụng người anh hùng  bại trận,  hương khói nghi ngút trải mấy ngàn năm bi tráng.

Trong chiến tranh chống Mỹ, năm 1968. đơn vị Đại đội Thanh niên xung phong của tôi ém quân ở xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu để bảo đảm giao thông huyết mạch cho trọng điểm đường độc đạo cầu Cấm. Diễn Phú đối mặt với đền Công, gần lắm độ hơn cây số. Những lúc ngớt bom đạn, tôi dắt theo mấy chiến sĩ băng qua đường sắt ga Mỹ Lý, vượt cầu Mỵ Châu viếng nơi thờ tự hai ngàn năm dư Thục An Dương vương. Đứng dưới đường Một ngước  nhìn lên cổng tam quan chót vót vời vợi. Đền có ba tầng lầu cổ kính, mái ngói sẫm màu rêu phong. Những cây si xanh om mọc xé đá leo lên đến tầng thượng xum xuê. Những cột đền đồ sộ, chạm nổi hình rồng phượng tinh xảo sơn son thếp vàng rực rỡ. Câu đối hoành phi chữ nghĩa của các bậc danh nho bốn phương còn lưu lại. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ đôi câu đối “Nhất thống dư đồ khai vũ trụ - Thiên thu miếu mạo túc thanh cao” đầy hào khí kể về công đức người khai sáng đất nước và văn minh Âu Lạc. Ở đây, tượng, gươm giáo, voi ngựa, nghê đá, đồ tế khí nhiều vô kể.  Không khí trong đền là một cõi tịnh mịch, u nhã. Xung quanh đền bát ngát núi non, biển trời, cảnh quan hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên. Thục An Dương vương đã được thần Kim Quy cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đưa vào thủy phủ sống trong thế giới thần linh. Thôi, chớ đem thành bại mà luận anh hùng ở đây. Mái đền uy nghi như cánh hạc khổng lồ, nửa rợp lên núi, nửa nghiêng chao trên sóng biển bạc đầu. Trước mắt hai rặng núi Hạc Lĩnh và Long Sơn như hai con rồng hùng dũng lượn về ngàn tây giữa muôn vạn chồi biếc thắp sáng bạt ngàn thông xanh. Thưa cụ,  di chỉ này là có thực 100%, không ai bịa  tạc ra được. Trải hai ngàn năm có lẻ, ngôi đền được trùng tu không biết bao nhiêu lần, như một vật thiêng uy nghiêm đứng đó thách thức gội mưa tắm nắng thời gian.


Lễ tế thần ở Đền Công


Mãi sau này hết chiến tranh, đến thời hòa bình, tôi được biết Ðền Công là một di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng và cũng là một danh thắng. Lễ hội Ðền Công 15 tháng 2 âm lịch hằng năm là  lễ hội lớn ở Nghệ An, thu hút hàng vạn lượt người từ khắp nơi đổ về trẩy hội. Không giống như lễ hội Cổ Loa, luôn có ba phần: lễ tế thần, lễ rước kiệu, khách thập phương dâng hương, vui hội, lễ hội Ðền Công chỉ có lễ tế thần, sau đó là các sinh hoạt văn hoá: hát tuồng, chèo, thả đèn hoa.   
Mùa xuân, đến với Ðền Công không chỉ là dịp cầu phúc, cầu tài mà còn là dịp để lòng người ghi dấu đoạn kết bi thương của câu chuyện Loa Thành. Đền Công linh thiêng và lòng ngưỡng vọng của nhân dân cũng đủ để ta rút bao đi
ều suy ngẫm. Vó ngựa An Dương, lưỡi gươm oan nghiệt, dòng máu Mỵ Châu đỏ tươi luôn thức tỉnh và  chỉ đường  cho dân tộc chúng ta đi.


Đền Công thờ Thục An Dương vương trên  núi Mộ Dạ, xã Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An

Đến đây, nhìn gương mặt dúm dó, khổ sở của nhà văn, tôi thấy mình có lẽ  công kích ông rậm lời quá chăng ?
-         Thế đích thực kinh đô Âu Lạc của Thục An Dương vương ở đâu ?!
Thái Vũ nôn nóng bồn chồn.
-         Từ từ, để đệ nói cho mà nghe. Sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép “ Sau khi diệt được nước Văn Lang của vua Hùng, Thục Phán đặt tên nước là Âu Lạc, xưng vương là An Dương vương, đóng đô ở đất Việt Thường”. Đất Việt Thường là nơi mô? Tôi băn khoăn lắm, bèn tra cổ sứ của ta và cổ sứ Trung Quốc về nghệ An (1). Vất vả lắm, mãi sau mới thòi ra được dòng chữ này “Việt Thường là từ cổ để chỉ vùng đất Hoan Châu” (2). Hoan Châu đúng là đất Nghệ An rồi. Nhưng trời đất, làm sao tìm cho ra cái  thành trì trải tang thương dâu bể nó chỉ còn bé như cái kim vứt đáy bể?

      May quá, trời giúp tôi. Mùa Xuân năm 1966, đơn vị đội 65 TNXP của tôi rải quân ra cả  chục đại đội làm một tuyến đường mới 15B song song dự phòng cho đường 15A, nếu bị đánh phá tắc đường. Con đường  từ Phà Sen chập chờn ẩn hiện trong rừng thẳm vượt  bản Gò Khế, chạy vào Đông Hiếu, vượt dốc Lụi, xuyên qua huyện Nghĩa Đàn (tên cổ là Nghĩa Đường) ở đội sản xuất số 8 và 10 của nông trường Quân đội Một tháng Năm, rồi trườn sang Thanh Hóa. Ở chính gần nơi con đường đi qua, đơn vị TNXP đại đội 325 của tôi đóng quân ở bản Đồng Be, xã Nghĩa Trung, một bận tôi nghe một già làng người dân tộc Man Thanh tên là cụ Sỏi đồn kháo về một thành trì… Tôi tò mò lách qua hẻm núi Khe Tọ ra thị trấn Thái Hòa, ngược lên đến xem cho rõ thực hư thì thấy giữa thung sâu, bốn bề đại ngàn im lìm ngủ chìm trong hàng chục thế kỷ có một tòa thành hình xoắn ốc đắp bằng đất lắp xắp hình hài mờ tỏ trơ gan cùng tuế nguyệt giãi dầu, cấu trúc và diện tích bằng cái ở Cổ Loa thành Đông Anh. Phải rồi, Nghệ An xưa nay được xem là đất phên dậu, nó là địa bàn trọng yếu của quốc phòng qua các thời đại. Chọn nơi này xây lũy đắp thành phòng thủ giữ nước thì sáng suốt vô cùng.

Toàn cảnh làng Vạc nhìn từ sông Hiếu

Mãi 6 năm sau, năm 1972, Viện khảo cổ học Việt Nam cho tiến hành  khai quật  khu di chỉ ở làng Vạc (3) này. Di chỉ khảo cổ học làng Vạc (xã Nghĩa Hòa, Nghĩa Đàn) đã đạt đến đỉnh cao, ở vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền văn hoá Đông Sơn. Với hàng nghìn hiện vật được phát hiện, trong đó có nhiều hiện vật quý như trống đồng, rìu, dao găm cán tượng người phụ nữ, dao găm cán tượng người đàn ông bằng đồng, dao găm cán hình rắn quấn chân voi, bao chân bao tay có lục lạc, các loại trang sức bằng đá, thuỷ tinh được chế tác tinh xảo, các loại khuôn đúc, mảnh trấu thóc ... đặc biệt có một loại hiện vật mới phát hiện được duy nhất ở làng Vạc mà các di chỉ văn hoá Đông Sơn khác chưa có được, đó là lẫy nỏ và mũi tên đồng  giống hệt như ở Cổ Loa Đông Anh. Tôi suy nghĩ lung lắm hàng chục năm, sau nhiều phân tích, biện giải đã đi đến nhận định là : trong buổi bình minh dựng nước ở thế kỷ thứ III TCN, để phòng thủ bảo vệ đất nước, An Dương vương đã cho xây dựng nhiều thành trì  theo mô hình xoắn ốc, ít ra đây là cái thứ hai sau Cổ Loa ở Đông Anh. Có thành cao hào sâu, có binh khí tân tiến, có súc tích  lương thảo, binh hùng tướng mạnh, làm được như thế mới đánh tan được cuộc xâm lăng ào ạt của hàng chục vạn quân Tần Thủy Hoàng, giết được cả danh tướng Đồ Thư; làm như thế các bộ tộc Âu Việt của Triệu Đà vốn sống xen với người bộ tộc Lạc Việt trong quan hệ hết sức gần gũi mới bớt lăm le nhòm ngó và luôn chực thôn tính lẫn nhau.
Sơ đồ thành Cổ Loa (4) ở Đông Anh để chống xâm lăng       
của Tần Thủy Hoàng và sự thôn tính của Triệu Đà



Ơrica ! Ơrica ! Tìm ra rồi. “An Dương vương đóng đô ở đất Việt Thường”. Việt Thường là nơi duy nhất tồn tại ở di chỉ làng Vạc chứ chẳng có cái thứ hai nào trên đất  Hoan Châu cả. Tôi sướng rơn lên. Phế đô của nước Âu Lạc kia ư !? Hoang vắng quá, thê lương quá ! những hai ngàn hai trăm năm rồi còn gì. Thục Phán An Dương vương ở ngôi được 50 năm (257- 208TCN) là vị vua thứ 3 sau vua Hùng với nước Văn Lang và trước đó là Kinh Dương vương với nước Xích Quỷ. Ôi, cái thời tiền sứ Hồng Bàng xa vời !...

Theo hành trình chạy trốn của phụ hoàng Thục vương và công chúa vượt qua Tuần  xuôi Yên Thành đổ xuống Cầu Bùng tới nơi  tử nạn thì làng Vạc cách Mộ Dạ 38 cây số, không hề vướng bận một con sông rạch nào cả. Hợp lý quá đi chứ về mọi phương diện, phải không, thưa tiên sanh ? từ khoảng cách, địa hình, di vật, địa danh trong chính sử, với cả cái làng Nho Lâm (nay là Diễn Thọ), là cố hương của tướng quân Cao Lỗ (5) bị An Dương vương bãi chức bởi những lời can gián nghịch tai. Bị đuổi về làng, do nắm vững kỹ thuật chế tác binh khí, ông mở lò đúc rèn nông cụ truyền nghề cho dân làng, truyền mãi đến tận nay. Cao Lỗ chính là ông tổ nghề rèn lâu đời ở xứ có một cái mỏ sắt không nhỏ và ông còn là vị thủy tổ của danh gia vọng tộc họ Cao (6) với những tên tuổi lừng lẫy: quan tứ trụ   triều Nguyễn, nhà sử học Cao Xuân Dục, giáo sư triết học uyên bác Cao Xuân Huy, nhà ngôn ngữ học hàng đầu Cao Xuân Hạo, kể cả Đại tướng Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hoà Cao Văn Viên đẻ tận bên Lào… đều là hậu duệ xa đời của tướng quân Cao Lỗ. Hiện Cao Lỗ có nhà thờ khá hoành tráng thờ ông ở làng Nho Lâm cách hồ Xuân Dương nước xanh trong mơ mộng quanh năm ở giữa, đi một quãng nữa là tới đền Công.

     - Chí lý  ! Có lý lắm – Thái vũ khoái trá xuýt xoa -  ông lúng búng buông một câu :
 - Thế còn lưa cái thành Cổ Loa ở Đông Anh ai xực đi cho ?
 -  Ai làm sao xơi nổi cái thành to tổ bố thế hả cụ.  Nó cũng là một di chỉ thực 100% đấy thôi, nhưng người đời sau đã ngụy tạo ra những sai lầm dây chuyền như dựng đền thờ An Dương vương, tôn tạo những di tích để hồi nhớ cố quốc Âu Lạc… làm cho con cháu chúng ta tưởng thật, cho rằng vùng đất  Phong Khê Cổ Loa là kinh đô của nước Âu Lạc thì sai rồi.     

Sau khi ép con trai làm kế phản gián ăn cắp được bí mật quân sự của đối phương, Triệu Đà (7) diệt được Âu Lạc của An Dương vương. Y cho san phẳng Cổ Loa thành ở làng Vạc, kéo quân về thành Cổ Loa  Đông Anh đóng kinh đô, lập ra nhà Triệu. Lịch sử nước Việt
sang trang mới với một triều đại chính thống : nhà Triệu (207-111TCN). Triệu Đà một bộ tướng thuộc dòng  Âu Việt chứ không phải là quân xâm lược phương Bắc như có người lầm tưởng (bởi Triệu Đà hùng cứ ở quận Nam Hải  tức Quảng Đông bây giờ, mà Quảng Đông, Quảng Tây thời đó kể từ hồ Động Đình, sông Dương Tử tức Trường Giang đổ xuống  là đất đai của người Bách Việt chúng ta). Thành ra, một thời khá dài trong lịch sử hiện đại Việt Nam, các nhà làm sử nước ta thiến mất chữ Triệu trong câu mở  Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi : “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, Lê xây nền độc lập - Cùng Hán Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương”.

 Như vậy, rõ ràng Cổ Loa Đông Anh là kinh đô nhà Triệu chứ không phải là kinh đô nước Âu Lạc. Sau nhà Triệu  thì đến thời kỳ một nghìn năm Bắc thuộc phong kiến Trung Hoa nối tiếp nhau cai trị nước ta cũng đóng đô ở đây với những tên thái thú sừng sỏ như Sĩ Nhiếp, Tô Định, Mã Viện… [ Bắc thuộc lần I : (207 TCN – 40), có cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43). Bắc thuộc lần II (43-541) có  khởi nghĩa Bà Triệu, có L ý Bôn Nhà Tiền Lý và Triệu Việt vương (541-602). Bắc thuộc lần III (602-905)  có khởi nghĩa Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, có thời tự chủ (905-938) với Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn]. Khi lấy lại được nước, Ngô Quyền gĩư nền độc lập (938-967) cũng đóng đô tại đây nốt. Đến lúc dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lập ra nhà Đinh (968-980) mới đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình. Thành thử Cổ Loa thành luôn được tân tạo, chỉnh trang để xứng đáng là chốn kinh kỳ của một quốc gia. Chuyện tượng không đầu của Mỵ Châu, hình tượng giải oan ngọc trai giếng nước nơi Trọng Thủy đâm đầu tự vận đều nằm  trong khuôn viên thành Cổ Loa là chuyện có thực. Con cháu chúng ta về sau này đã lóa mắt trước các di vật khảo cổ ở đây, dẫn đến lầm lẫn đáng tiếc là vậy.

- Hay ! Hay, thật lí thú ! (Ông hạ giọng nhỏ lại, trầm ngâm như nói thầm cho chỉ mình nghe). Bình sinh tớ chỉ phục một người. Đó là Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc. Từ ngày vào sống ở Sài Gòn tìm thêm được một người thứ hai: Thái Doãn Hiểu. Nhưng nghỉ (hắn ta) chuyện trò, giảng bài và viết văn hay hơn.

*

Vài tháng sau, quyển Tình sử Mỹ Châu của Thái Vũ được Nhà xuất bản Trẻ in xong. Tôi được tác giả tặng một cuốn. Giở xem thì vẫn là chuyện tình ướt át trắng trong vô tư ẩn dưới mưu mô xảo quyệt của những mẹo lừa chính trị đểu cáng theo như trí tưởng quá phong phú của nhà viết tiểu thuyết lịch sử. Tình sử Mỹ Châu của Thái Vũ vẫn chưa vượt qua được trí tuệ, quan điểm đánh giá nhân vật lịch sử công minh của nhân dân trong thiên truyền thuyết dân gian phức tạp và hấp dẫn này. Ở quyển này Thái Vũ viết không có văn (8).  Bối cảnh vẫn diễn ra ở kinh đô Cổ Loa thành Đông Anh !? Ở đây, cần phải kể đến một sáng kiến mới mẻ rất ghê gớm của nhà văn là : hành trình chạy giặc của cha con An Dương vương - Mỵ Châu không cặp theo đồng bằng ven biển mà chạy vòng lên mạn ngược theo núi. Có lẽ ở trên đó các con sông đều hẹp hơn nên có thể lội bộ qua dễ dàng chắc? Sáng kiến thành tối kiến !
-         Sao ngây ngô tra thế ông văn sĩ ơi là ông văn si ! Tôi kêu trời
-         Thái Doãn Hiểu thì đúng và hay thật đấy. Nhưng tiếc luận thuyết của cậu chỉ có một người ! – Thái Vũ bẻn lẹn  chống chế.
Tôi lặng lẽ nhìn nhà văn già từ đầu đến chân, mỉm cười :
-         Bó tay luôn. Riêng trường hợp này, không phải số đông bao giờ cũng đúng.

Tp H ồ Ch í Minh, 29-8-1986
Cố hương Nghệ An, mùa hạ 2008
Sài Gòn, 15-12-2010
Thái Doãn Hiểu

.
*****************************
CHÚ THÍCH :
(1) Lịch sử tên gọi của Nghệ an :          
◦Thời Hùng Vương và An Dương Vương, tỉnh Nghệ An bao gồm bộ Hoài Hoan và phần bắc bộ Cửu Đức.           
◦Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân.   
◦Đời nhà Tấn là quận Cửu Đức.
◦Đời nhà Tùy là quận Nhật Nam.          
◦Năm 628 đổi là Đức Châu, rồi lại đổi thành Châu Hoan, lại Châu Diễn.  
◦Đời nhà Đường là quận Nam Đức.      
◦Thời nhà Ngô, tách ra khỏi quận Cửu Chân đặt làm quận Cửu Đức.       
◦Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu.  
◦Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An.         
◦Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An.         
◦Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn.     
◦Bản triều năm Gia Long nguyên niên lại đặt làm Nghệ An trấn. 
◦Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía Nam sông Lam). Sau đó hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập lại, lấy tên là tỉnh An Tĩnh.
◦Từ năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh "Nghệ Tĩnh".
◦Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay. 
◦Ngày 15 tháng 11 năm 2007,  thành lập thị xã Thái Hòa, thuộc tỉnh Nghệ An trên cơ sở tách thị trấn Thái Hòa và 7 xã.

(2) Dòng chú giải bộ Đường Thư, mục Vương Bột.
(3) Khu di chỉ văn hoá khảo cổ Làng Vạc nằm trên địa bàn xã Nghĩa Hoà huyện Nghĩa Đàn. Cách thành phố Vinh 90km về phía Tây Bắc. Từ ngã Ba Yên Lý, theo đường quốc lộ 48, đến thị trấn Thái Hoà, rẽ về phía Tây Bắc đến địa phận xã Nghĩa Hoà, huyện Nghĩa Đàn.



Khai quật di chỉ làng Vạc       
Đây là khu di tích khảo cổ học quý giá, nằm trên vùng đất rộng khoảng 3ha. Qua 6 đợt khai quật và nghiên cứu, b
ắt đầu từ năm 1972, ..1991, …1999…
Theo GS Hoàng Xuân Chinh, Viện Khảo cổ học VN trong "Tầm vóc Làng Vạc - một trung tâm văn hóa lớn trên lưu vực sông Cả" thì tại khu di chỉ này phát hiện được tổng cộng 347 ngôi mộ (Di chỉ Làng Vạc là nơi phát hiện nhiều mộ táng nhất trong số hàng chục di chỉ khảo cổ về văn hóa Đông Sơn ở nước ta),  1.228 hiện vật, trong đó đồ đồng là 665 chiếc, đáng chú ý nhất là 14 chiếc trống đồng có niên đại khoảng 2.100 năm, và các vòng tay, dao găm có niên đại từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Những Di chỉ  đồ gốm Xóm Đình có  niên đại thuộc các thế kỷ VI – V trước Công Nguyên. Ngoài ra còn có bao tay, vòng cổ tay, hoa tai... Các hiện vật này hiện nay được lưu giữ tại bảo tàng Nghệ An. Đây thực sự là dấu tích của người Việt cổ thời đại đồng thau. Di chỉ  làng  Vạc do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ  quan quản lý. Tại khu di tích khảo cổ học làng Vạc, huyện Nghĩa Đàn đã xây dựng nhà bia, nhà triển lãm (Ảnh trên đầu bài).
Rất đáng tiếc là mấy năm gần đây, di chỉ làng Vạc tan hoang bởi nạn dân đào bới  tìm kiếm cổ v ật.

     

            

Mặt trống đồng và các hoa văn trang trí trên trống làng Vạc


     
                Đèn dầu thắp sáng                 Bao chân có lục đạc                   Mũi tên đồng

Các di vật  tìm thấy ở di chỉ làng vạc - tiếng vọng của một nền văn minh đã mất

Một sự tình cờ ngẫu nhiên, vào những năm 50 của thể kỉ XX, di chỉ làng Vạc xuất hiện! Đây chính là minh chứng cho nhận định: Cách đây 2500 năm  Thị xã Thái Hoà là nơi quần tụ của người Việt cổ, nơi phát triển rực rỡ của nền văn hoá Đông Sơn.
Làng Vạc, nơi mà địa danh dường như đã trở thành danh từ chung khi người dân nơi đây nói về nguồn cội. Truyền thuyết làng Vạc - Lễ hội làng Vạc - Văn hoá cội nguồn như một sợi chỉ hồng xuyên suốt trong đời sống tâm linh đồng bào các dân tộc vùng Phủ Quỳ nối từ ngàn xưa đến hôm nay. Bản thân sự giao hoà ấy đã trở thành ngôi đền thiêng liêng giữa cõi đời, cõi người...
 Năm 1999, từ những giá trị đích thực qua những hiện vật được tìm thấy, khu Di chỉ khảo cổ Làng Vạc được Bộ VH-TT (cũ) công nhận và cấp bằng Di chỉ khảo cổ cấp Quốc gia, và cũng từ đó hình thành Lễ hội Làng Vạc để đồng bào các dân tộc trong vùng có dịp tìm về cõi tâm linh, nhớ về một thuở  Văn Lang Hùng Vương  và Âu Lạc An Dương vương dựng nước.      
Tháng Hai về Nghĩa Đàn đi hội... Lễ hội Làng Vạc hằng năm chính thức được tổ chức vào các ngày Mồng 7, Mồng 8 và Mồng 9 tháng Hai  (âm lịch)- trước Giỗ tổ Hùng Vương một tháng. Đã thành thông lệ, khởi sự từ năm 1999, đến nay qua 11 lần tổ chức, Lễ hội làng Vạc đã chính thức trở thành một lễ hội truyền thống hội đủ những yếu tố tâm linh, những sắc màu văn hoá trong đời sống cộng đồng của đồng bào các dân tộc miền đất Phủ Quỳ- Tây Bắc Nghệ An.







Lễ hội làng Vạc Thái Hòa, Nghĩa Đàn
Tại đây, mọi người được chiêm bái pho tượng đức Quốc tổ Hùng Vương bằng đồng, có kích thước  cao 145cm, nặng 500kg. Tượng được các nghệ nhân đúc đồng ở huyện Ý Yên tỉnh Nam Định đúc. Trước anh linh Vua Hùng, lãnh đạo và toàn dân thị xã Thái Hoà  bày tỏ lòng thành kính, sự tri ân các đấng khai quốc từ thưở hồng hoang của loài người và hứa quyết tâm toàn dân thị xã thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Trong các kỳ lễ hội, ngoài những nghi lễ tâm linh, những hội thi văn hoá thể thao... năm nào cũng không thể thiếu các cuộc thi tìm hiểu về đất nước – con người quê hương với sự tham gia nhiệt tình của các nam thanh nữ tú đến từ 32 xã, thị trấn trong huyện với truyền thống uống nước nhớ nguồn.
(4) Loa thành, bọn đô hộ phương Bắc thường gọi là thành Côn Lôn. Loa thành xoáy 9 vòng thành cao sông, hào sâu, dài 16 km, là công trình quân sự lớn nhất thời cổ đại được xây từ thời An Dương vương.
(5) Cao Lỗ (?-179TCN) còn gọi là Cao Thông, Thạch Thần, dân gian gọi là Ông Nỏ. Tướng giỏi, người phát minh ra nỏ liên châu và mũi tên đồng. Ông khuyên An Dương vương dời đô xuống đồng bằng (TDH nhấn mạnh, xin lưu ý), là người được nhà vua sai thiết kế và chỉ huy xây Loa thành. Người đời sau phong là Thánh của nghề rèn, đặt tên đường phố. Ông phản đối việc cầu hôn của Triệu Đà, báo trước nguy cơ mất nước. An Dương vương không tiếp thu, lại nghe lời gièm pha, bãi chức, đuổi ông đi, mắc mưu kế thâm độc của giặc khiến vận nước tan tành. Khi nghe tin kinh thành thất thủ, ông cùng người em trai là Cao Trí đến chặn giặc và gục ngã ngay giữa chiến trường sau khi cha con An Dương vương đã tháo chạy khỏi kinh thành (Sách Thủy Kinh chú). Từ Nho Lâm đến làng Vạc chỉ 41 km, ở gần thì Cao Lỗ mới tiếp cứu được, còn ở Cổ Loa Đông Anh cách những 298  cây số thì nước xa không cứu được lửa gần !?
(6) Họ Cao là dòng họ khoa bảng có truyền thống Diễn Châu, Nghệ An. Đến năm  2010, dòng họ đại tôn này kể từ Cao Lỗ đã truyền được 91 đời con cháu chút chít. Xin đơn cử một gia đình gồm cha, con  cháu và chắt 4 đời: Cao Xuân Dục (1843–1923), Đại thần, Thượng thư bộ Học, Đông các đại học sĩ, Tổng tài Quốc sử quán. Cao Xuân Tiếu (1865-1939), Thượng thư, Hiệp biện đại học sĩ, Tổng tài Quốc sử quán. Cao Xuân Huy (1900-1983), Giáo sư Hán học. Cao Xuân Hạo (1930-2007), Giáo sư Ngôn ngữ học.
Người họ Cao rất hiếu học. Ví dụ Cao Giãn Liên, Cao Như Nhật, Cao Trọng Sính, Cao Đăng Nghĩa, Cao Đăng Vĩnh, v.v... và dòng họ Cao-Xuân ở Diễn Châu Nghệ An.

Ở thôn Thịnh Mỹ, Diễn Châu Nghệ An có ba chi họ Cao: Cao-Xuân, Cao Huy và Cao Văn - thảy đều có thể phát xuất từ ông bà Non.

Ông tổ họ Cao-Xuân cũng có thể là ông Cao Quýnh thời vua Lê Thánh Tông. Ông Cao Quýnh thi Hương đỗ Cử nhân lúc 27 tuổi, sau đó thi Hội khóa Ất Mùi (1475) đỗ hội nguyên và thi Đình đỗ thám Hoa làm quan tới chức Đông các đại học ssĩ và được khắc tên trong bia Văn Miếu, Hà Nội. Từ ông Cao Quýnh đến ông Cao Xuân Dục là khoảng 13 đời.
Quan điểm của giáo sư Cao Thế Dung phù hợp với quan điểm của chúng tôi cũng cho rằng thủy tổ của họ Cao ở Nghệ An là hậu duệ của Cao Lỗ.
(7) Triệu Đà (207-111TCN). Khi lấy được Âu Lạc, Triệu Đà sát nhập vào quận Nam Việt, dùng chính sách “dĩ di công di” (Lấy người Việt trị người Việt) giữ nguyên quyền vị cho các lạc tướng, dùng họ cai trị nhân dân Âu Lạc. Triệu Đà chỉ đặt một số quan lại tâm phúc và số quân  đồn trú để khống chế các lạc tướng, đốc thúc họ nạp cống. Triệu Đà là người đảm lược kiêu hùng thường đặt tài năng của mình trên cả Tiêu Hà, sánh ngang với Hán đế. Triệu vương nghênh ngang tự đắc, sôi sục chí cả. Về già, Nam Việt bị Hán Văn đế nhà Tây Hán thôn tính bằng ngón đòn ngoại giao nửa răn đe nửa dịu ngọt.
 (8) Trong hội nghị khoa học của Khoa Văn Đại học sư phạm Vinh ở Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, Nghệ An  mùa hè 1970 tôi có được tham dự. Trước các nhà khoa học đầu ngành nghiên cứu văn học Việt Nam, nhà thơ Xuân Diệu có đọc cho chúng tôi nghe truyện thơ Tình sử Mỵ Châu Trọng Thủy, cực hay, nhất là đoạn Mỵ Châu ngồi sau lưng ngựa rút lông ngỗng và độc thoại với Trọng Thủy, trữ tình đằm thắm ngang với màn Juyliet tự tình  với Rômêô nơi ban công. Xuân Diệu chơi đúng 3 trang. Tôi không hiểu cho đến tận giờ, người nào quản lý di cảo của Xuân Diệu sao không xuất bản  truyện thơ này cho bạn đọc thưởng thức một áng thơ hay.

LỜI BÌNH CỦA TỪ ANH TUẤN  :

                                Thân gửi Anh Hiểu, Hoàng Liên.
    Tôi đã đọc bài Làng Vạc - phế  đô nước Âu Lạc mấy lần rồi. Rất kinh ngạc thấy sự liên tưởng tinh tường mà táo bạo của Anh. Chưa có ai nghĩ đến cả. Đọc xong, tôi đọc ngay Sử kí Tư Mã Thiên. Định viết cho Anh ngay sau đó, nhưng mạng hỏng. Hôm nay xin thảo luận với Anh mấy ý sau.
    1/ Bài phản biện của Anh đối với tác phẩm của nhà văn Thái Vũ (Bùi Quang Đoài) ta tạm gác lại, coi đó là một giai thoại văn học giữa một nhà nghiên cứu và một nhà văn.
    2/ Suy đoán của Anh rằng di chỉ Làng Vạc là phế đô nước Âu Lạc rất có cơ sở lịch sử và khoa học, rất nghiêm túc, sử liệu rất rõ ràng, phương pháp tiếp cận vấn đề rất thuyết phục.
     Tôi đọc Sử kí và rất tin vào những tư liệu của nó vì Tư Mã Thiên sinh năm 145 tr.c.n. Sau khi bị thiến, được Hán Vũ đế cho tự do ra vào mật cung, được đọc các tài liệu mật như biểu, tấu.... Ông viết Sử kí lúc khoảng trên dưới 30 tuổi. Có thể nói, Ông đồng thời với nước Âu Lạc.
     Khi Hán Cao tổ lên ngôi, phong cho Đà làm Nam Việt vương năm 196 tr.c.n, tức là công nhận nền độc lập của Nam Việt, nhưng bị coi là chư hầu; xuống chiếu bảo phải hòa hợp với dân Bách Việt để yên biên giới phía Nam. Lúc này, cương vực phía Nam của Đà đã đến Quế Lâm và Tượng quận.  Đà thường dùng uy lực hiếp biên giới, đem đồ đạc, của cải đút lót cho Mân Việt và Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Không nói Đà đánh diệt Âu Lạc. Lại nói Âu Lạc đánh nhau làm rung động Nam Việt.
    Sau này Hán đánh thắng Nam Việt. Triệu thua, theo về Hán. Quan Giám quận của Quế Lâm là Cư Ông dụ dân Âu Lạc theo Hán thành công. Những người này đều được phong Hầu.
    Nhà Triệu ở ngôi 5 đời, cộng 93 năm, đóng đô ở Quảng Châu. Sử kí không nói Đà có con trai là Trọng Thủy, chỉ nói người kế vị Đà là cháu Đà, tên Hồ.
    3/ Tôi cho rằng, lúc đầu Thủ đô của Âu Lạc là Cổ Loa. Nó là trung tâm của Âu Lạc. Âu Lạc lúc này đang gồm cả phần lớn Quảng Tây ngày nay. Xin nói thêm là theo Anh Vũ Dương Huân, nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, nguyên Đại sứ ta tại Ba Lan, nguyên Tổng Lãnh sự ta tại Viễn Đông Liên bang Nga cho biết, ở Nam Quảng Tây có trên dưới 100 đền thờ Hai Bà Trưng. Năm 1960, khi sang thăm Việt Nam, Chu Ân Lai đã dâng hương tại đền thờ Hai Bà ở Mê Linh đấy, Anh ạ.
   Triệu Đà đánh Âu Lạc nhưng chỉ diệt được chính quyền Trung ương thôi. Lúc đầu chiếm được Cổ Loa, An Dương Vương  phải chạy vào Hoan Ái, xây dựng Thủ đô tại làng Vạc. Nhưng chắc là chưa xong, chưa kịp đặt tên thì lại bị truy diệt.
   Triệu Đà không trực tiếp cai trị được dân Âu Lạc vì mắc phải cái chiếu của Hán. Hơn nữa, dân Âu Lạc cũng rất hùng. Vả lại, Triệu Đà cũng không có đủ oai quyền và thực lực. Thế mới có chuyện Sử kí nói rằng Cư Ông dụ dân Âu Lạc theo Hán thành công. Hán là một trong những thời đại oai hùng bậc nhất của Trung Quốc. Có lẽ vì thế mà dân Âu Lạc theo. Đến lúc đó, Hán mới lần lượt bổ nhiệm các Thái thú, như Đồ Thư, Sĩ Nhiếp, Tô Định...
    Và người đời quên Làng Vạc.
    Còn địa danh Cổ Loa tôi rất nghi là do Triệu Đà đặt sau khi chiếm được Thủ đô Âu Lạc. Trước đó có lẽ mang một tên gì đó thuần Việt, nay bị lãng quên. Cổ Loa là một từ Hán Việt, nghĩa đen là bụng con ốc, tức là gọi theo hình dạng thành trì. Làm sao thời An Dương Vương đã có từ Hán Việt? Triệu Đà đặt thế, sau này các cụ đọc theo âm Hán Việt là Cổ Loa. 
    Tôi nghĩ, nếu Anh bỏ phần tranh biện giữa Anh và Bùi Quang Đoài, chỉnh lí, bổ sung thêm một số tư liệu thì bài Làng Vạc - phế đô nước Âu Lạc là một công trình khoa học rất nghiêm túc, rất hay!
   
     Chúc Anh, Hoàng Liên và các cháu vạn sự như ý.

CHÂM NGÔN SỐNG VÀ VIẾT

Tôi viết phê bình là để làm sáng giá và sang giá tác giả, tác phẩm văn học.

HOÀNG NGỌC HIẾN

Mỗi ngày gặp một người, họ là mảnh của thiên tài nhân loại. Hãy nhặt những chữ của đời mà viết nên trang.

CHẾ LAN VIÊN

Sở dĩ tôi nhìn được xa trông được rộng là bởi tôi đứng trên vai những người khổng lồ.

NIU TƠN