"Tôi trước tác là để phổ biến tâm thuật chứ không phải để kiếm danh lợi." THÁI DOÃN HIỂU

Thạch Quỳ - Người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010 0 nhận xét



THÁI DOÃN HIỂU

Thạch Quỳ là nhà thơ rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và chóng vánh tìm ra ngay bản chất đối tượng. Anh làm thơ hoàn toàn bằng mẫn cảm thiên phú. Thơ Thạch Quỳ là thứ thơ có phần nhỉnh hơn mọi lý thuyết về thơ.

Có mùi mật trong hoa
Điều đó chú ong vàng cũng biết
Có hương thơm ẩn giữa sắc màu
Cái chuyện này, bướm tím biết từ lâu!
Nhưng bạn ạ! Hương trầm trong gỗ mục
Thì ong vàng, bướm tím có hay đâu...
                                                                                              
(Luận về hoa)

Khi làm thơ, Thạch Quỳ luôn tìm ra “Hương trầm trong gỗ mục”. Đấy là tài năng, và cũng là thi pháp nổi trội của anh. Bạn đọc có thể lấy điều ấy làm chìa khóa giúp tiến sâu vào địa hạt thơ ca Thạch Quỳ để khám phá và hiểu biết.

Thạch Quỳ đã cho in 7 tập thơ nhưng người không có khái niệm về hai tiếng “tập thơ”, thường lấy đơn vị bài làm thước đo bản vị cao thấp thơ mình.

*

Thơ Thạch Quỳ là một thứ thơ bản ngã nguyên chất. Nhà thơ luôn luôn tìm cách nói về mình và nhân danh mình để viết. Anh bảo “Thân thể tôi như chiếc cột ăng ten - Vừa phát sóng, vừa tự mình rỉ sét”. Nhà thơ ráo riết đi tìm cái tôi bị đời đánh cắp, đánh tráo, đồng hóa giữa một cuộc sống chẳng êm ả chút nào, bao giờ cũng gập ghềnh đầy tai biến. Là người có khí phách và cá tính mạnh, Thạch Quỳ đã hứng chịu nhiều tai bay vạ gió “Từng đối mặt với bạo tàn chết chóc - Máu trào tuôn, sẹo đóng tự trong hồn - Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết - Nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn” (Tôi). Thạch Quỳ từng sống trong tâm trạng “Anh đã đi như người trong mộng - Anh đã bơi như người trong sóng”, và lâm vào tình huống không mấy sáng sủa “anh đã khô kiệt cùng đá sỏi - anh đã kêu kiệt cùng tiếng gọi - anh đã mơ cạn kiệt giấc mơ” (Cuối cùng vẫn một mình em). Không còn cách nào khác, trời thấp nhà thơ buộc phải đi còm “Len lỏi giữa thiên thần, yêu quái - Lẽo đẽo bóng mình dị dạng sau chân...” (Đêm vườn rừng). Một sự giằng xé nội tâm quyết liệt, ảo giác dày đặc bủa vây Thạch Quỳ “Bàng hoàng giữa một ngày - Mình sống hay chẳng sống?” (Không đề), thi nhân cảm thấy mình rất đơn chiếc “Nghìn năm rồi biển hát - Một bài ca chán nhàm - Tôi nghìn năm trước biển - Dấu chân còn lang thang” (Viết trước biển). Giữa mênh mông tuyết trắng rợn ngợp không bến bờ ở xứ người, anh thấy mình chỉ là một “chấm nhỏ giữa bốn bề hư vô” (Tuyết). Từ những chiêm nghiệm vật vã đau đớn đó, Thạch Quỳ đã nhận ra “hạnh phúc trang nghiêm trong thất vọng kiếm tìm”. Và giữa đời thường, nhà thơ khác thường này cũng có lúc bế tắc “Rồi dẫm chân tại chỗ - Tôi quẩn theo bóng mình”, buông xuôi tay chán ngán “Tôi chẳng còn chính tôi - Thơ nối dài chi nữa” (Thư). Nhà thơ tự thấy mình là một người thừa giữa nhân thế:

Điều tôi nói chừng Chúa Trời chưa biết
Phật chưa nghe và Trời cứ làm thinh
Tôi nhỏ nhoi tồn tại chính mình
Nhân danh một chính mình tồn tại
                                       
(Tự khúc mùa xuân)

Đó là sự “mềm yếu” tinh thần cao cả duy nhất của Thạch Quỳ
.
Lỗi lầm chủ yếu và lớn nhất của Thạch Quỳ là có khá nhiều lỗi nhỏ. Thạch Quỳ làm chủ ý chí và thành tâm làm kẻ nô bộc cho lương tâm của anh. Người có lương tâm trong sạch giúp định hướng cho cuộc đời vào con đường ngay thẳng tươi sáng và có thể chịu đựng được những thử thách nghiệt ngã.

Khi lương tâm bảo thì phải tuân lệnh. Sống, đừng để lương tri khiển trách và chớ trốn chạy sự quở mắng của tục nhân. Trước pháp đình của nhân cách, chẳng có ai làm chứng trung thực bằng lương tâm. Nó là vị quan tòa thiếu tư cách pháp nhân nhưng lại thừa đạo hạnh. Lương tâm chính trực và tỉnh táo luôn minh chứng cho anh tất cả, tốt hơn mọi lời tụng ca hay xỏ xiên xằng bậy.

Thạch Quỳ đến với nghề văn thật gian nan. Nhà thơ đã từng kể về công việc làm thơ của anh: “Khoảng 15 năm, tôi phải sáng tác trong phòng ngủ tập thể. Lúc 11 giờ đêm họ tắt đèn đi ngủ, tôi dùng bút chì để ghi chừng, viết mò trong bóng tối. Tôi thức thâu đêm, từ đó thành thói quen. Viết văn, làm thơ trái với nghề chính nên phải vụng trộm, giấu lén và luôn bị khích bác. Nhưng lòng say mê đã thắng. Tôi luôn luôn hướng tới những cuộc cách mạng, những vụ bùng nổ trong tâm hồn con người để đến với cái đẹp” (Tự bạch). Thạch Quỳ rất dễ thơ, thấy bất cứ cái gì, điều gì, anh đều nhanh nhẹn nghĩ ra một cái gì đó khác người để viết: thuốc lá, tim, đàn tế trời, hồ Kẻ Gỗ, đền Cuông, khó ngủ, khói, tôi... Anh ưa cười. Phiếm luận của anh toàn giọng bỡn cợt chòng ghẹo buông tuồng nhưng mà đau, ánh lên chất thông minh quái quỷ.

Với thơ, Thạch Quỳ có những hình ảnh ví von thật đạt “Trung liên quây như chảo mật đang sôi”; những nhận xét tinh vi “Đỉnh sừng nhô hai hạt nếp trắng tinh” (Trâu đi), “Dưới cao vợi sao dày như nếp nổ” (Tiễn em trai đi vào, tiễn em gái đi ra). Nhà thơ như một lão nông, quan sát kỹ không bỏ sót đến cả “Bọt trứng vàng gốc lúa, bùn sâu nằm sủi tăm”; những hình ảnh về chiến tranh gây ấn tượng “Có thành phố nào như thành phố này không - Chưa thấy nhà cao chói lọi sắc hồng - Đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn” (Gạch vụn thành Vinh). Thạch Quỳ dựng được những thi tứ rút ra từ trong khoảnh khắc hiếm hoi “Những con bê - bom xẻ đôi bò mẹ - Vẫn ngậm nguyên núm vú nhay hoài” (Tâm sự thần sấm sét...), và “Những hàm răng xích xe tăng - Đang nhai nghiến ruộng vườn trong lửa đỏ”. Nói về cái khốc liệt của thiên nhiên ở một vùng quê, anh tả gió Lào nóng bỏng “Cây trâm bầu gió nhổ rồi - quẳng lên cả rễ ngang trời mà quay” giữa hối hả âm thanh “Tiếng đa đa kêu vỡ đá gầy”. Anh có những câu “độc” “Chiêm bao gặp mộ mình không cỏ mọc - Riêng điều này là nỗi sợ của tôi” (Bên lề cỏ Uýtman). Thơ Thạch Quỳ có nhiều câu rắn đanh chứa chất tục ngữ “Giọt mưa gom hạt bụi hóa phù sa” (Gom nhặt trên bãi bom B.52), bên những câu dân dã đầy kỷ niệm tuổi thơ “Trẻ chăn trâu cổ quấn dây thừng - Nhảy và hát khúc đồng dao cúng quắng” (Ghi chép ở đền Khai Long). Nhà thơ hay đặt những câu hỏi oái oăm làm người đọc chau mày sau đó mới vỡ ra nhiều lẽ “Nghìn năm mưa đã từng mưa - Thấm vào viên sỏi hay chưa thấm vào?” (Lời nghìn năm). Bằng cảm quan lịch sử và văn hóa cao, Thạch Quỳ có sự nhìn nhận để thể tất nhân tình trước bi kịch nước mất nhà tan của cha con An Dương Vương - Mỵ Châu “Lưỡi gươm ròng ròng máu tươi - Nước mắt ướt đầm yên ngựa - Chỉ có đất với trời và cỏ - Hiểu đường đi của giọt máu người” (Qua đền Cuông ghi chuyện cũ). Thạch Quỳ nghe từ màu sắc, nhìn từ âm thanh “Lặng im trên cát con sò - Nằm nghe sắc tím đổi mùa trên lưng” (Làng cát). Tâm hồn nghệ sĩ đó luôn lay động, tỉnh thức, thâu tóm được cả trời biển trong một ngấn sóng trên bức tường bất động “Với Lan Châu ngấn sóng ánh trên tường - Luôn luôn động theo nhịp trời, nhịp biển”. Thạch Quỳ hào hoa với Huế “Xao xác cả trưa hè trong phượng chói” (Huế), cảm được “Thuyền đêm nằm đợi bóng trăng hoang” (Thôn Vỹ), hiểu được “một trăng suông nhạt chòng chành đáy sông”, thương được “Cái chân ai bước giữa vòng nam ai” (Đêm sông Hương).

Cũng như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Tú Xương..., Thạch Quỳ luôn thấm thía cái sự nghèo của mình. Nghèo thì hèn. Giàu có quá là ăn cắp nhưng cùng khốn quá là bởi bị đánh cắp. Luân lý trọng lợi hủy hoại vẻ đẹp của tâm hồn, vô hiệu hóa nhân đức, bêu riếu lịch sử và treo một chiếc gương tối tăm cho lớp trẻ. Ai đó cùng than nghèo khó sống, giàu khó chết. Người nghèo thường sống rất tử tế. Đừng khinh nghèo, chớ cậy giàu. Người Anh bảo “Nghèo không phải là điều xấu hổ nhưng xấu hổ vì nghèo mới là nghèo”. Thạch Quỳ có hai câu thơ vẽ chân dung mình rất Nghệ: “Cái nghèo đội nón cời và nhón chân đi từng bước - Cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi” (Cái nghèo). Anh chỉ tên vạch mặt cái nghèo “Mày núp trong vừng trán mẹ răn reo - Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ - Mày luồn qua trăm ngàn mối chỉ - Để nằm trong mảnh vá áo con ta”, “Đêm ta ngủ thì mày hóa kiến - Bò nôn nao trong ruột đói của ta”. Anh thảng thốt phát hiện ra “cái nghèo có nọc - Đốt cha ông từ thuở chẳng chăn màn”, “cái nghèo xơ trên bộ cánh làm sang - Cái nghèo xác lại nằm trơ đáy đĩa” (Cái nghèo). Sách Luận ngữ dạy “Nghèo không oán mới khó, giàu không kiêu còn dễ”. Nghèo túng nhưng vẫn chơi sang “Nhà thơ nuôi họa mi - Hót xanh trời trứng sáo”, vẫn lãng mạn “Tôi chờ ai nữa? Mùa thu rộng - Gió thả bên trời lá liễu bay” (Mây trắng mùa thu), vẫn cốt cách phong lưu “Mơ một lần quẫy đạp - Ngập chìm trong sóng xanh” (Cỏ), vẫn trẻ trung phơi phới “Cỏ đừng già cỏ nhé - Dù tuổi thơ qua rồi - Đất giữ gìn cho cỏ - Cỏ giữ gìn cho tôi” (Cỏ), vẫn hây hây lồng lộng hồi sinh khi nhìn ngắm:

Con chim hót nhả hạt cây
Tiếng chim xanh ở trong tay người trồng
Qua bạch đàn đã đến thông
Thấy cây đang độ đuôi công múa xòe
Thấy cây thắp nến bốn bề
Rưng rưng nghìn búp hướng về trời cao
Mùa xuân thả nắng chiêm bao
Thả mưa bụi phấn bay vào rừng thông
Mùa xuân thả nắng mật ong
Cho cây lá nhọn đứng hong nhựa vàng
…
Lá thông là thực hay mơ
Nửa buông như chỉ nửa mờ như mây.

                                          (Lục bát về thông)

May thay, cái nghèo là nguồn năng lượng kích thích sáng tạo nghệ thuật. Nhà thơ vẫn                        cứ mộng du giữa đời thực đang chực giơ nanh vuốt “Cỏ biếc, bờ xanh, đường sá rộng - Mình tôi lạc giữa ngõ ra vào” (Mây trắng mùa thu), vẫn thủy chung với thơ “thỉnh thoảng nàng thơ ghé đến - Rồi lướt đi, không biết đã về đâu...” (Gửi em); vẫn phấp phỏng với người tình bé nhỏ:

Trời đã tết. Khói xanh mờ bụi nước
Góc vườn con, hoa mận đã đơm khuy
Lòng như đất lặng thầm mơ dấu guốc
Cỏ thanh thiên hoa trắng đợi em về.

                                           (Đợi em ngày giáp tết)

Vẫn yêu một tình yêu “dan díu” say đắm run lên như thuở ban đầu, mặc cho “nhỡ bước chân qua”, mặc cho “Em quay lại, đã trắng mùa trên tay...” (Bước xuân), phó cho quy luật của trái tim nổi loạn:

Có một nửa đang đi tìm một nửa
Như vầng trăng ngoài cửa, phía trời xa...
Anh yêu em hơn thần thánh yêu nhau
Một khẽ chạm tay rung toàn thân thể
Và bởi vậy, tình yêu trần thế
Đủ để thánh thần mơ ước trên cao

                                                 (Không đề)

Đã thế, người vẫn cứ cao giọng lý sự:

Cuối ngày tôi sót lại em
Cuối em, sót lại trong đêm ánh đèn
Giấc mơ mở lối cái nhìn
Ta khép mắt, thấu thị miền không ta.

                                                    (Đêm)

Thạch Quỳ còn ráo hoảnh tự bào chữa đổ riệt cho tất cả chỉ là do “Muốn thoát khỏi tình yêu - Thoát tình yêu chẳng dễ” (Không đề) để trốn tránh trách nhiệm.

Là nhà thơ phải đãi quặng tìm vàng, Thạch Quỳ viết về cái lao tâm khổ tứ của mình khi hóa thân “Viết, viết, rồi lại viết - Vắt kiệt cả máu mình - Tình yêu đặt lên giấy - Tâm hồn thì trống trênh” (Nhà thơ). Lao động nghệ thuật của nhà thơ là thế đấy, gian nan như kẻ vượt cạn, như người đàn bà đẻ mà không có con trong bụng để rặn “Tôi gọi hồn về trong những câu thơ - Giam ngục tối con chữ - Hồn ơi, hồn hãy ở tù - Để xác tôi yên giấc ngủ”. Trong trạng thái cô độc âm thầm trọn vẹn theo nhau như cái bóng, cùng mái đầu bạc chắn ngang cuộc đời, chỉ có điều là “Thân thể không tan thành khói được” (Bài ca thuốc lá), trái tim nhạy cảm Thạch Quỳ “Đều đặn đập bảy mươi lần một phút - Xâu thời gian thành chuỗi hóa đời anh” (Trái tim). Tim nhà thơ mềm nhưng rắn, nó chẳng bao giờ lãng quên nhân thế trong ngực lớn bồi hồi của anh “Trái tim nói những điều hệ trọng - Cả những điều ta tưởng rất vu vơ” (Trái tim). Khi bóng chiều chạng vạng phủ lên tuổi tác, Thạch Quỳ tổng kết nửa phần đời của mình:

Nửa ngửng đầu ngóng tìm cái Đẹp
Nửa cúi đầu xoay tìm cái ăn
Nửa lụy yêu ma, nửa lụy thánh thần
Còn một mái tóc đốm bạc
                                                
(Nửa phần đời)

Người ta kháo nhau ở đâu đó rằng Thạch Quỳ sống ngông, thơ ngông (!?), lãnh đạo không ưa, và những người sống an phận dễ ngán? Tại sao lại không ngông được khi trần trụi giữa đời mọi giá trị đều bị đảo ngược. Một Tú Xương mới tất yếu phải được mọc ra là lẽ đương nhiên, có gì phải phàn nàn, cay cú. Chính Thạch Quỳ đã tự thú để bảo vệ mình “Có gì như có lỗi - Mà có lỗi gì đâu” (Cò). Giữa một xã hội “Người mang hình đá - Đá mang hình người” (Tảng đá hình người), anh kinh hồn nhận ra cái gì cũng lai từ con gà, hạt gạo, đến cả “Thơ phú thị truờng dần lai kinh tế - Nửa hồn ta lai nửa hồn mình”. Sống trong một thế giới rối ren bị xáo trộn “Cái mất đi hú gọi không về - Cái còn lại trơ mòn sỏi đá”, Thạch Quỳ đau cái đau của người mất sạch gia tài văn hóa. Sự nghiệp Thạch Quỳ bò như rùa, còn cái nghèo thì luôn bá vai bá cổ nhà thơ. Xưa nay “nghệ nhân nan phú” (nghệ sĩ khó mà giàu). Chìm nổi là vận hạn của tài tử. Anh hoa phát tiết thường là tai vạ mà miệng là cửa ra của họa phúc. Nhiều người thương thành phúc, lắm kẻ ghét thành họa. Không một hạnh phúc nào là không chứa tai ương, không vinh quang nào lên đến tột đỉnh mà lại không bị tai ách quật nhào. Người mạnh thăng hoa trong bất hạnh, kẻ yếu lụi tàn trong vận may. Thành thử, thơ Thạch Quỳ chứa biểu tượng không phải hai mà nhiều mặt là một tất yếu của nghệ thuật. Cái ưu thế này bỗng chốc trở thành cái thất thế của Thạch Quỳ, lỗi đâu phải ở nhà thơ mà lỗi tại người nhận thông tin có tên là Đố-Ky-Ấu-Trĩ. Bởi thế, cái án “Ngục văn tự” vẫn còn là chuyện kể dài dài đeo đẳng hành tội các kẻ sĩ chân chính tồn tại hàng nghìn năm tới nay. “Là người nuôi ảo mộng giữa chiêm bao”, Thạch Quỳ chán nản quả quyết khẳng định “Cuộc đời tôi thật nhất vẫn là mơ...”. Anh nói vậy mà đâu phải vậy! Từ khởi thủy, con người hình thành cách sống, bài học vỡ lòng đầu tiên là tính lạc quan. Cái lôi cuốn nhất trong đam mê cá nhân là hy vọng. Nó vực ta dậy, nuôi dưỡng, xuýt xoa cùng ta những cay đắng mùi đời. Hy vọng thường chen lấn nằm ngay cả trong tuyệt vọng. Phẩm tiết của người có tâm hồn lớn là luôn hy vọng, đẩy lùi sự tuyệt vọng. Thật là bất hạnh và khốn khổ cho ai đó chẳng biết ngày mai mình phải làm gì. Với họ, hy vọng là giấc kê vàng của kẻ điên rồ khi thức giấc. Ở đâu có cuộc sống, ở đó có hy vọng. Chớ ảo vọng vào ai đó, đừng vọng tưởng vào một cái gì quá sức. Kỳ vọng thái quá chỉ tạo ra sự gạt gẫm mình, bắt ta phải trả giá. Trên trường đời, nếu chẳng may sa chân rơi xuống vực thẳm thì tuyệt vọng sẽ nhân đôi lên sức mạnh của chúng ta nếu biết cách chế ngự nó. Tuyệt vọng là bà đỡ của kẻ cố cùng. Và rồi, hy vọng sẽ làm cho vết thương thành da, hy vọng xua đuổi mọi sự khốn quẫn. Còn sống còn hy vọng. Có hy vọng, có tất cả. Biết nhìn thẳng vào tương lai thì sẽ không bị hối hận bởi quá khứ. Nhà thơ hãy kỳ vọng ở chính mình!
Thạch Quỳ vẫn hy vọng trong đợi chờ “Nửa phần đời chong mắt đèn xó tối - Nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên” (Nửa phần đời). Giằng co giữa cơm áo và thơ, thi nhân vẫn chưa mất niềm tin ở quy luật sống:

Nghìn năm biết có còn không
Hoa trên đá, phấn trên thông ghẹo người...
Tháng năm lần lữa đắp bồi
Lặng im để cỏ nói lời nghìn năm.

                                                        (Lời nghìn năm)

Thạch Quỳ rất thích ngao du với văn nhân tài tử và trong lúc chơi anh đã rút ra được phần cốt tủy trong văn nghiệp và tính cách của họ. Với tiền nhân, Thạch Quỳ mộ đạo Nguyễn Du “Cụ đi tìm chân kinh - ở thứ kinh không chữ” (Viết bên mộ Nguyễn Du). Với bạn văn cùng thời, anh ưa chất lãng tử chịu chơi ở Nguyễn Trọng Tạo “Tản mạn một thời - Một thời tản mạn - Dấu giày cát bụi - Lấm đầy thủy tinh” (Tặng Nguyễn Trọng Tạo). Anh khâm phục sự cần mẫn miệt mài viết, viết và viết ở Ông Văn Tùng “Dù ảo thuật với văn chương, kiêng kỵ - Thì nhà văn vẫn là kẻ xuyên tường” (Nhà văn và bốn bức tường). Với Nguyễn Duy anh yêu cái mộc mạc đến là dân dã ở nhà thơ này “Giả say, thơ phú ậm ừ - Thật say, ngã cái đứ đừ bờ ao” (Rượu làng vang). Với Võ Văn Trực, anh nghĩ tiếp đào sâu tới cái kiếp người với nghiệp chữ của tác giả Nghĩa địa làng nổi tiếng “Mai ta thành bụi - Biết tên là gì - Đám tro chữ nghĩa - đen trời âm ty - Mai thơ thành bụi - Biết tên là gì - Đám tro chữ nghĩa - Mang hồn đam mê” (Bụi)… Đùa cùng bạn bè, bao giờ Thách Quỳ cũng cất giọng ba lơn cười hóm dễ nghe, nhưng với người đã khuất như nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh, giọng thơ của anh lại chùng xuống ngậm ngùi thành kính trước người đồng thanh tương ứng “Bây giờ gió rối trong màu cỏ - Tôi rối tóc mình trước bạn tôi”, “Cỏ xanh tròn nấm mộ - Yên lặng bóng chiều rơi” (Nghĩa trang chiều).
Thạch Quỳ thực sự là nhà thơ thứ thiệt của làng quê. Sau Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân, cùng Ngô Văn Phú với Trần Đăng Khoa. Thạch Quỳ đang góp phần hoàn chỉnh bức tranh quê ở phương diện tả trực tiếp công việc nông tang nặng nhọc cày cấy, gieo trỉa, gặt hái giữa mù mịt thiên tai hạn hán, lụt lội, bão tố hoành hành khắc nghiệt... Đây là đất quê hương Đô Lương của nhà thơ “Đào đất lên nơi nào cũng đỏ - Đập đá ra có ánh lửa ngời”; nơi đó “Hạt cát biết mọc cánh bay - Làm mưa trên mái, suốt ngày mưa khô” (Làng cát); nhưng chốn ấy có những nàng thôn nữ  xinh đẹp duyên dáng, đảm đang nổi danh gái Phường Lường “xắn quần ngang gối giục trâu cày” giỏi lội bùn cấy lúa và cả “Ghẹo khách qua đường mượn câu hát dặm - Che nón cười gương mặt đỏ như say”; nơi đó có những sản vật quý “Vải mật Thanh Lưu chín mọng đầu cành”, có những địa danh Khả Lưu thời Lê Lợi dàn quân huyết chiến cùng giặc Trương Phụ, có danh thắng “Vực Cóc đây thăm thẳm một hang trời - Bè nứa chui vào ngỡ đi về xứ khác - Nhớ lúa Ba Ra mỉm miệng cười - Trắng xóa muôn nghìn thác bạc” (Đất Đô Lương). Là thầy giáo dạy toán học, Thạch Quỳ tả tiếng chim tuyệt đối chính xác, anh lắng nghe bằng cả tâm hồn: “Tiếng dú dị trầm đều như đất thở”, “Tiếng gà gáy cong như vòi hái”, “Tiếng vàng anh tròn như đồng tiền - Gieo tít tận trời cao gieo xuống”, khi lại là “Tiếng vàng anh vàng lựng trái xoan...”, “Con cú rúc sôi tròn như thắng mật”, “Nghe cu đất hót tròn vo hạt đỗ”, “Chiền chiện hót thơm lừng mao lúa”, “Chèo bẻo hót xanh trời trên ngọn mít”..., khi quan sát anh huy động tất cả các giác quan “Tiếng chim chiền chiện không tan vào im lặng”, “Tiếng chim len trong lá hé mắt nhìn...”, “Con mách khách nhảy cành cam qua cành khế”, “Tiếng con chim kẹt võng nhớ lời bà”, “Con chim hét kêu đêm mẹ ra đóng cửa - Con quạ kêu ngày bà lo đàn gà toi - Tiếng chào mào ríu rít những trưa vui”. “Lúa chín sẫm trên lưng con cu vày hót xù lông cổ - Nắng lên rồi, tu hú gọi bâng khuâng”, “Buổi cày trưa bìm bịp gọi trong lùm”, “Tiếng khướu đất hót từ cái mỏ khum khum”,”Con sáo hót làm đầu ta ngoái lại”, “Bọn giết người không thể hiểu tiếng chim đâu - Ta lấy tiếng chim làm mật lệnh”... Những lúc ấy, ta thấy Thạch Quỳ có miệng ngậm và tai mở. Nghe tiếng hàng trăm loài chim hót chộn rộn mà phân biệt được rạch ròi tinh tế đến vậy để rồi hạ được một nhận xét có tầm khái quát cao “Giữa cuộc đời lẫn lộn cả buồn vui - Tiếng chim cũng tiếng lành tiếng dữ” (Tiếng chim). Phải là người gắn bó sống nhiều ở làng quê, say mê máu thịt, để tâm quan sát kỹ Thạch Quỳ mới viết có chiều sâu và thi vị đến thế. Cái biết quyết định cái thấy, cái hay của Thạch Quỳ thuộc về vốn sống, kinh nghiệm, tài năng, tấm lòng nhân hậu của anh. Trực giác thi ca của Thạch Quỳ thường nảy nở bên trong tiềm thức.

Tiếng chim rót làm mầm cây mở uống
Sắc màu xanh, tiếng hót cũng xanh
Tiếng chim treo trên quả chín rung cành
Che suốt đường em đi cùng anh...

                                                  (Tiếng chim)

Nhà thơ làm thơ gieo bằng các con chữ chung. Người thưởng lãm thơ phải lấy cái thâm tình nồng hậu của riêng mình tự tâm đắc để thấu triệt cái lẽ ở chỗ tác giả nói thầm, lúc ấy ta mới mong mở được cánh cửa để nhìn vào một thế giới mới bên trong - cái mà Lục Giả thời xưa tâm niệm “Ẩn chi tắc đạo, bố chi tắc vi thi” (Ẩn bên trong là đạo, bày ra bên ngoài là thơ). Thơ hình thành từ những trận bão lòng. Các bài thơ hay dường như ra đời một cách ngẫu nhiên, bất ngờ như tình yêu bỗng dưng xuất hiện, nhắm tới một đối tượng xác định và một mục đích nhất định.

Không phải ai tu cũng đắc đạo cả. Thi sĩ là con ong. Phải biết chọn hoa để làm mật, không cẩn trọng dễ thành ra mật đắng. Thạch Quỳ đã nhập cõi bằng tâm đức và số phận của mình. Thành thử đọc thơ không dễ. Thiếu một cặp mắt tinh khi đọc sẽ vùi dập nỗi khổ tâm của người viết. Tìm ra chỗ khúc mắc mới tỏ được nỗi tâm huyết của nhà thơ. Ngôn ngữ là cái bóng của hành động, việc làm, nó lột tính cách thi nhân. Giữa giấy trắng mực đen, chữ nghĩa quyết định sự sống còn của tác giả. Rõ ràng là thực tiễn của thi ca Thạch Quỳ đã ứng với điều chăm bẵm của nhà thơ “Bản chất cái đẹp có các phẩm chất của nó. Một cách hồn nhiên nhất, như không hiểu biết, nghệ sĩ luôn sáng tạo để phát triển cái đã có, đã nhận thức. Nghệ sĩ phải cao hơn những lời tán tụng, sự hâm mộ và cả sự tán thưởng của công chúng” (Tự bạch).
*

Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long cho rằng “Người làm thơ có thể giàu có ở vạn bài nhưng có khi lại nghèo ở một chữ”. Thơ Thạch Quỳ có những điểm yếu nhất định về cấu tứ, thi pháp, ngôn ngữ. Chúng ta có thể dễ dàng nhặt ra được những hạt sạn nhỏ ngay cả trong bài thơ hay như Tiếng chim: - Từ đồng nghĩa khác âm còn thiếu nên hay lặp: “Chỉ biết tiếng bom gầm không át được - Tiếng chim nằm trong trái tim người đi.”
Chữ “trái tim” đã dùng hai lần ở trên, nên thay vào đây bằng từ tương đương “lồng ngực” hợp lý hơn.

- Thừa chữ: “Anh bạn Lào nhớ con chim trên váy xanh thêu chỉ của Bunmi”. Câu thơ này hơi bị “Lào” hóa và thừa hai chữ “chỉ” và “của”, đã thêu dĩ nhiên phải bằng chỉ, trong văn cảnh không phải của Bunmi thì của ai vào đây. Thử chữa lại: “Anh bạn Lào nhớ con chim thêu trên váy xanh Bunmi”, có Việt hơn không?

“Sắn đã gieo xong, đỗ đã tỉa”. Hạt mới gieo, sắn trồng bằng hom (thân cây) thì gieo thế nào được. Tỉa là cắt bớt cành. Tiếng Nghệ nói gieo là trỉa. Câu thơ nên chỉnh lại “Sắn đã trồng xong, đỗ đã trỉa”.

“Tiếng chim rót và mầm cây mở uống”. Giữa chữ “và” và chữ “làm” tiếng nào đạt hiệu quả nghệ thuật hơn? Chữ “và” ngăn giữa phân đôi hai phạm trù độc lập, còn chữ “làm” biến nó thành cặp phạm trù hô ứng.

Tài nghệ của văn nhân theo tôi nghĩ là phải biết xóa bỏ không thương tiếc những cái cần xóa bỏ. Chỉ có như vậy, anh ta mới tiến lên được. Thơ là cái đẹp tối thượng của muôn loài. Là người trinh sát của thượng đế, Thạch Quỳ làm thơ là để đào thoát ra khỏi sự cô độc nhằm giải giới những ẩn ức của hồn mình. Thơ Thạch Quỳ có chỗ như trăng ngâm đáy nước, có chỗ như hoa chiếu trong gương, không dễ gì mà giải được. Anh cũng có những bài khó hiểu. Đọc Đêm miền rừng, xem tới xem  lui, đến cả tôi cũng không hiểu được tác giả muốn nói gì (!?). Chúng tôi viết thư hỏi Thạch Quỳ. Anh giải thích: “Tôi học ông Nguyễn Du, nhưng học cái gì ? Học cái triết lý gốc. Ở chỗ, tôi quan niệm Truyện kiều là cái phòng thí nghiệm. Thí nghiệm gì? Đổ cái chất ấy vào ống nghiệm thì nó ra cái chất gì sau các phản ứng? Ông Nguyễn Du đã đổ cái chất vào ống nghiệm?
Ống nghiệm đó là gì? Xin thưa: Cái chất ông Nguyễn Du đổ vào ống nghiệm đó là tinh hoa của trời đất, của tạo hóa, là đặc trưng kết lại thành cô Kiều. Cô  Kiều đi qua ống nghiệm trở thành kẻ sống dở chết dở không hóa ma cũng chẳng còn cái hồn người. Tóm lại, thành cái dị dạng. Ông Nguyễn Du có khát vọng lớn là mong sao cho loài người có một cơ cấu xã hội cho hợp lẽ tự nhiên, đừng giết tinh hoa kết lại trong hai tiếng Con Người. Ông đã trố mắt khi thấy cô Kiều dị dạng tâm hồn, ông thét lên một khát vọng lớn ở tầm nhân văn, nhân bản, nhân đạo vô biên trong cái tập thơ như chỉ có mỹ cảm êm đềm “Mua vui cũng được một vài trống canh” mà ta thường gọi nôm na đơn giản là cái Truyện Kiều ấy. Bài Đêm miền rừng hoàn toàn là như thế. Nó nén cái triết lý Truyện Kiều lại trong từng ấy chữ theo nhận thức của tôi. Tôi viết nó bằng những động tác vũ điệu ma quái. Mong nó không dẫn dắt bạn đọc đi lạc vào khu rừng rậm đó”.
Nghe xong, đọc lại bài thơ, tôi lại càng tắc tị hơn, gọi dây nói cho tác giả:
- “Ông nói gì tôi chẳng hiểu mô tê chi cả”. Ở đầu dây ngoài Vinh, Thạch Quỳ hét toáng lên: “Vậy là hiểu quá rồi. Bác đã ngộ ra!”. Thế đấy, bạn đọc ai hiểu Đêm miền rừng, làm ơn làm phước xin giải mã giùm tôi.
*

Thơ Thạch Quỳ trầm bổng nhiều cung bậc như một cây đàn muôn điệu, luôn nhất quán ở tâm hồn, không nhất quán ở giọng điệu. Nghe Tiếng chim mà làm được sáu đoản khúc tài tình như vậy sức viết quả là sung túc và trường vốn. Nhìn đống gạch vụn đổ nát do chiến tranh hủy diệt ở thành Vinh nghĩ được xa gần là rất sâu.Từ Cái đường thẳng nằm t rong hình học của Ơclit nhảy sang Lôbasépxky khô không khốc đến cái chết của Galilê mà rút ra được bài học triết lý bổ ích cho cuộc đời, bộc trực được tâm tính con người như vậy là khá kỳ thú và tươi mát. Tình yêu mà lại tang tảng như Thơ viết ở Đàn Giao là rất nhộn. Những đề tài mòn nhẵn về làng cát, cỏ, cây thông, An Dương Vương - Mỵ Châu... mà nghĩ được riêng và đẩy được tới chốn vĩnh cửu như rứa là rất giỏi thơ... Phải chăng đấy là bằng chứng của sự đa dạng ở một phong cách đã định hình? Bạn đọc nên đọc toàn bộ thi phẩm Thạch Quỳ với 300 bài chứ không phải là hơn chục bài chúng tôi trích theo đây thì mới có thể kiểm chứng được nhận định này.

(Rút từ bộ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI)
THÁI DOÃN HIỂU

THÁI DOÃN HIỂU





Thơ Nguyễn Khắc Thạch buồn, mang mang nỗi buồn trước hy vọng và tuyệt vọng, trước nỗi quay quắt của áo cơm cùng sự khủng hoảng đức tin, trước sự dấn thân trong nước mắt tủi hờn đầy kiêu hãnh. Chẳng riêng gì Thạch, Cụ Nguyễn Du xưa cũng đã từng than “Cổ kim hận sự thiên nan vấn” (Những mối hận xưa nay khó mà hỏi trời được). Người ta khổ vì có trí tuệ, Thạch khổ vì biết quá nhiều! Anh gọi nỗi buồn về nhận mặt, bóc trần nó ra cho mọi người thấy.






Nguyễn Khắc Thạch - Người đi chân trần trên lưỡi dao bén của sự thật



Nguyễn Khắc Thạch làm thơ như đi chân trần trên lưỡi dao bén của sự thật, máu toé vãi ra. Anh lấy dự cảm của mình làm thuốc băng bó. Vết thương thành sẹo. Thạch gọi đấy là thơ! “Thơ là sẹo của sự thật”.
Như chàng “vệ sĩ của đêm đen” (chữ dùng của Ngô Minh). Nguyễn Khắc Thạch là người trầm tư trước cuộc đời, phán xét sự vật đến tận cùng bản chất, anh can đảm “hôn xác chết”, tự tin, lặng lẽ đối đầu với chúng. Đứng chênh vênh một chân bên dòng sông một bờ, Nguyễn Khắc Thạch rụt rè tường trình lại khá sắc bén và chọn lựa những phát hiện mới lạ về cõi người hiện sinh, chỉ ra những nguyên cớ đang huỷ hoại nhân tính làm tan rã các kỷ cương giường mối xã hội.

Thời tôi sống ruồi nhặng sành mâm cỗ
họ hàng tôm vẫn lộn đít lên đầu
chó ngoại hết hời ra kiếm ăn hè phố
trẻ bụi đời lòng cạn mắt sâu.
Thời tôi sống vô cảm điều trông thấy
dọc đường quan mặt nạ mặt tiền
những thầy tu hành đạo trên xe máy
hẳn đường về cõi Lạc có gần hơn.
Thời tôi sống giấc mơ vàng ô nhiễm
trọc phú lập loè như đom đóm ma trơi
tôi ươm bạc chay thiền phù phiếm
anh tinh đời vờ một gã ham chơi.
Thời tôi sống thương mình trơ cá gỗ
nỏ tơi mang mà chẳng áo công hầu
đất của cỏ thì trời cao gác trọ
sợ miếng mồi như cá sợ mắc câu.
Thời anh sống khác thời tôi sẽ viết
sống thời tôi chín dễ nên mười
nhưng không dễ sống mà không biết
sống mà nghi mình có phải là người.
(Gửi Nguyễn Trọng Tạo)

Sự bất lực trước đấng cao xanh, vĩnh hằng, nỗi cuồng say dâng hiến, bước đam mê gập ghềnh kiếm tìm nửa kia trong tình yêu, cái đẹp lao đao bởi thương tích đầy mình, tự do bị bắt chẹt, “những khoảng trống lương tri bị dối lừa”… đã dẫn đến những vỡ mộng, con người rơi vào cõi mênh mông buồn “Ta chẳng có gì ngoài ta – ngoài chẳng là gì trong ta – áo cơm bờm xơm vỗ mặt – hư danh cầm cố thi ca” (Tự khúc). Thơ Nguyễn Khắc Thạch buồn, mang mang nỗi buồn trước hy vọng và tuyệt vọng, trước nỗi quay quắt của áo cơm cùng sự khủng hoảng đức tin, trước sự dấn thân trong nước mắt tủi hờn đầy kiêu hãnh. Chẳng riêng gì Thạch, Cụ Nguyễn Du xưa cũng đã từng than “Cổ kim hận sự thiên nan vấn” (Những mối hận xưa nay khó mà hỏi trời được). Người ta khổ vì có trí tuệ, Thạch khổ vì biết quá nhiều! Anh gọi nỗi buồn về nhận mặt, bóc trần nó ra cho mọi người thấy. Nhà thơ không ngồi nhấm nháp tận hưởng thú đau thương như Lưu Trọng Lư, anh thành khẩn nhìn thẳng vào nỗi buồn để nhận diện chính mình và mọi lẽ quan thiết khác ở đời. Cuộc tìm kiếm mình là một hành trình khổ ải “Ta mang lỗi lầm của máu không đổi màu - Sự nhức nhối thời gian hoá thạch” (Nơi ta sẽ về). Năng lượng cảm thức sâu sắc của nhà thơ đã thuyết phục được chúng ta. Chính vì vậy, đến với thơ Nguyễn Khắc Thạch đòi hỏi ở bạn đọc ít nhiều đồng điệu.

Đầu này một chiếc dép
chỉ một chiếc dép đầu này
mà đầu kia phải lệch
mà đầu kia là cả… không gian
(Bồ Đề Đạt Ma)

Đắng cay nào đắng cay hơn:
Tôi như gã tín đồ bị rút phép thông công
khi thiên đàng dang ngang sợi tóc
em soi vào tôi gương mặt người đàn ông khác
em chỉ sống vì tôi khi đã chết cho người
(Mặc cảm)


Có nỗi đau nào đau hơn:

Ta ngồi dại hoá đôi khi
Thèm đau lần nữa những gì đã đau
(Gửi trăng)

Khi thịnh cần cẩn trọng, khi suy cần nhẫn nại. Mọi con đường phần cuối giống nhau, chỉ khác nhau phần đầu. Điều trọng yếu là phải biết sử dụng đời sống, chứ không than vãn để kéo dài tuổi sống. Mặc dù thế giới đầy khổ ải, song cũng đầy những tấm gương vượt qua bể khổ ấy bằng chính con thuyền thơ mỏng manh của mình. Là “đứa con hoang của mọi tín điều…”, thi nhân trở dạ làm thơ trong tâm thế ấy. Mạch thơ sám hối, trầm uất lung linh lan toả phản ánh sự chiêm quan khắc khoải, quằn quại bởi roi vọt tai ương và giàn giụa nước mắt cô độc. Giống như chúa Giêsu lê nặng cây thánh giá. Nguyễn Khắc Thạch oằn lưng vác nỗi khổ đau của đời người “Anh cứ đi như chiếc bóng giữa đời – Mong tìm được những gì không mất”. Nhà thơ phơi trần góc khuất tâm linh, chiếu rọi ánh sáng lương tri lương năng để phục sinh mình. Thơ Thạch được thai nghén trong sự tuyệt vọng “anh như xác vỏ chai lăn ra ngoài cuộc rượu” để sinh hạ ra những đứa con của sinh tồn.Trong một chừng mực nào đó, cảm quan của nhà thơ thiếu sáng, có lúc duy lý đến phũ phàng:

Tôi say lấp chiều lỗi hẹn
có như không là gió là lời
đêm cất vó tang bồng tơ nhện
đom đóm lập loè vỗ mặt trêu ngươi

Tôi say sấp chiều đêm rơi
ngõ buồn khê ngọt đường hoa trái
Rồi sẽ đắng người ơi khi tỉnh lại
thấy những điều giả dối trong nhau
(Ẩn ức)

Mở mặt chào cơm áo
Ôm lòng buốt ngọc châu
Mắt chiều vô tôn giáo
Nhắm linh hồn vào đâu.
(Tứ thơ)

Thơ Nguyễn Khắc Thạch hút người bằng tâm tình kín đáo, là tiếng vọng của nỗi buồn thấm, cao khiết, trang trọng.

Trời tròn lưng bánh tét
Đất vuông lòng bánh chưng
Dân nghèo thương ngày tết
Gói đất trời rưng rưng.
(Gói)

Biển như ngân giữa hồn tôi
Câu thơ nghiêng biển nghiêng trời là em
(Biển và em)

Nhà thơ luôn sống một thế giới ảo:
Có một mùa hè mắc cỡ
Cỏ hoang neo gió sững sờ
Lá bàng rơi nung lửa nhớ
Đài sen rụng vỡ hương mơ
(Kí ức)

Xuân biên giới với nét cọ phác thoáng đẹp đến thắt lòng :

Nơi ấy xuân về sớm hơn
Nắng trở mình phơi mái núi
Rừng già loà xoà bóng tuổi
Vội xanh lại mé đông tàn.
(Biên giới)

Nhà thơ đằm mình trong sự chiêm nghiệm, suy tưởng đến kiệt cùng:

Hạt mưa cứ ngỡ của trời
Ai ngờ đất khát vẽ vời làm mưa
Nối bây giờ với xa xưa
Biết mưa còn nối bây giờ - mai sau?
Hạt mưa tan vỡ vì nhau
Hình như mưa cũng đổi màu buồn vui.
(Mưa)

Nỗi buồn đó của Nguyễn Khắc Thạch mang một hình thái cứu rỗi. “Loại thơ cao siêu luôn hướng tới sự bất tử trong nỗi thống khổ của con người”. Từ mấy thế kỷ trước, Vonter đã chỉ ra như thế.
Thơ Nguyễn Khắc Thạch được nuôi dưỡng bằng một thứ tình yêu trần trụi, máu thịt nên kiệm lời, tứ đúc, ý tưởng dồn nén trong từng câu chữ. Nó là một thứ văn bia tác động đến tư duy trước, truyền mỹ cảm đến sau.

Bên thềm hoang
thiếu phụ
thoát y nằm
Ngọn nến cháy
sau vầng trăng khuyết…
(Thiền)

Người qua đêm mang đêm đi xa
Đêm thắp nến hàn trăng lữ thứ
Đêm thấm khát màu son trinh nữ
Để tái sinh cho huỷ diệt sau cùng…
(Đêm)

Nhà thơ sống trong linh giác mùa thu “Nắng thun chiều gió úa cài then”; sống trong cơn uất ức “biên chế cõng mấy nhà thơ tầng trệt – ăn nói cao hơn tầm thước con người” (Gửi Nguyễn Trọng Tạo); sống trong tâm trạng níu kéo sợ hãi “Muốn ôm chặt chiều - Chiều lại ngả vào đêm” (Chiều), bởi nhà thơ đinh ninh rằng mình đã bị lừa dối ngọt ngào “Tôi đi dọc tháng năm thừa – cô đơn úp mặt dối lừa cô đơn” (Gửi Nhật Lệ), Tín nghĩa bị xâm phạm, nhà thơ thắc mắc đến cái “đức tin có bảo hành – và chỗ dựa có đức tin - chỉ là những gì mong manh hư ảo” (Ý tưởng). Nhà thơ hoài nghi “chiếc mặt nạ hài hước - sự thật trở nên tàn nhẫn hơn”. Nhà thơ buồn vì “bao giờ con người cũng là một thực thể kép - ước vọng thì đầy nhớ tiếc thì vơi” (Thông cảm). Nguyễn Khắc Thạch luôn mặc cảm coi mình là kẻ đang lâm nạn “anh bị chém bằng lưỡi rìu ngôn ngữ - những đổ vỡ hư danh như hoàng hôn bầm dập đáy chiều - bức tranh món ăn không no được bụng - hiện thực cục cằn như kẻ đói yêu…” (Hiện thực). Không có gì làm ta cao thượng bằng một niềm đau khổ lớn lao. Trông cây mà ngẫm đến mình “Thấy thương cây cũng cụt đầu vì cao” (Với cây). Người ta thường căm ghét những gì làm họ sợ. Và, chết là sự giải thoát cho kiếp người “Áo cơm thôi sấp ngửa – Hương khói còn so đo - Những gì thắp được lửa - Rốt cùng đều thành tro” (Viếng mộ). Nhà thơ lại ngồi ước gì được quay về cái hồi “Mải chơi tiền lá rụng đầy tuổi mơ”, mong lấy lại niềm tin xanh “Nơi cây cỏ trinh niềm hoang dã - mỗi bước đi qua xanh mãi thuở ban đầu”. Một người phải chờ đợi, thời gian dài, nặng nề và lạnh lắm “Đôi khi nghe cái quen nghe mà rợn – Chó sủa từ không thành có… đêm dài” (Tiếng đêm). Nguyễn Khắc Thạch viết về thời gian khá hay và rất sâu. Theo anh, nó là khí cụ hiệu nghiệm để đong lường kiếp sống của chúng ta:

Ngày là kim chỉ thời gian
dại khờ khâu vá khôn ngoan kiếp người
ngày là lưỡi hái lường chơi
mỗi ngày liếm một mảng đời như không.
(Ngày)

Em chờ anh
sau mặt phẳng thời gian cuốn chiếu
hồn đá vọng phu
nửa thừa mang tang nửa thiếu
(Hoài vọng)

Thời gian như cái thùng bia
Rót vào cốc chén là chia tháng ngày
Không gian như nắm bàn tay
mở ra cầm chốn lưu đày bể dâu
Người ta vói mắc hai đầu
Thả mồi bong bóng mà câu… chính mình
(Ngộ)

Chừng ấy đủ biết Nguyễn Khắc Thạch là người đang bệnh! Anh mắc chứng đa cảm trầm kha. Thà bị bệnh ở thể xác còn hơn bệnh ở tâm hồn. Bệnh tật của tâm hồn còn đáng sợ hơn bệnh tật của thân thể. Thân bệnh có thể nhờ người khác chữa dùm, nhưng tâm bệnh phải chính mình chữa lấy. Chúng tôi thấy Nguyễn Khắc Thạch cũng đang tự chữa cho mình rồi đấy. “Những căn bệnh tuyệt vọng cần những liều thuốc tuyệt vọng” (Ngạn ngữ Anh). Điều chính yếu trong cuộc đời là không nên than vãn điều gì và không bao giờ nhìn lại những đổ vỡ phía sau.

Nguyễn Khắc Thạch có một bài thơ thuộc hàng kiệt tác khi anh viết về tình yêu đơn phương. Ngọc toàn bích không hề gợn một chút tì vết nào:

Có một dòng sông mang tên em,
Dòng sông anh tự đặt
Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền
Có một dòng sông trôi vào lãng quên
nước trong như nước mắt
điều chưa đến mà sao thấy mất
Có một dòng sông chỉ có một bờ
Phía bên kia quay mặt
dòng sông anh không qua được bao giờ.
(Dòng sông một bờ)

Tiếp tục lối tư duy đó, Nguyễn Khắc Thạch mạnh bạo, phóng túng và quả quyết phá vỡ cấu tứ niêm luật truyền thống, làm cho cổ điển và tự do hài hoà vào nhau tạo nên một từ trường mới bằng một thi pháp mới:
Hồn của mưa làm lạnh cơn mưa xác

khiến cơn mưa đồng loã giọt buồn
để em thấy mưa là nước mắt
Những cơn mưa tái sinh màu đất
những cơn mưa thuỷ táng khung trời
để em thấy mưa là hai mặt
để em thấy mưa là chia cắt
phía thành sông vẫn chảy rẽ chia bờ
để em thấy mưa không dập tắt
cõi mật tinh lửa vẫn cháy trong mơ…
(Mưa hai mặt)

Từ thi pháp hiện đại đó, Nguyễn Khắc Thạch rất có ý thức lập tứ cho từng bài thơ, từng câu thơ, dựng lên được xương cốt vững chãi cho toàn bài thơ. Thử xem, anh đã khắc đá được một chân dung tính cách chân xác nhờ cung cách đó như thế nào:

Ông vốn trắng tay không chải đầu bằng lược
Cái đầu nhà thơ đâu cần sự ve vuốt nào
Ông nuôi rượu canh giữ lòng trung thực
Và ông đã nhặt được chính mình từ những thứ đem cho
Có nỗi đau ngoài tầm nước mắt
Cánh chim cô đơn khi vượt trước bầy đàn.
… Ông đã vớt thơ ra khỏi sóng đời mình…
(Trích ngang Phùng Quán)

Thơ Nguyễn Khắc Thạch ánh lên chất mỉa mai, phúng thích thói đời và những mặt trái của đời sống xã hội để người đọc nhận thức nó, thấm thía phẫn nộ vì nó:

Ai đã thấy những gì cao hơn các tượng đài
Những gì sâu hơn đáy cốc trên bàn tiệc
Ai đã lấy ngực che Tổ quốc?
Còn ai đem Tổ quốc che thân?
(Những câu hỏi bâng quơ)
Khi niềm tin ta đã đóng đinh
thì cây thánh giá kia
cần chi phơi hình Chúa
Sự thật là thanh gươm lành trong vỏ
nhưng rút ra rồi…nó đau đớn biết bao.
(Trả giá)

Một số nhà thơ cả trẻ lẫn già bây giờ ưa chạy theo thi pháp hình thức mà lờ đi thi pháp nội dung. Họ chỉ tạo ra những cách nói lạ tai nhưng vô nghĩa. Nguyễn Khắc Thạch quan tâm cân đối cả hai. Những đoạn thơ vừa dẫn trên rất dân tộc và cũng khá hiện đại. Thi pháp ấy súc tích đến mức đã tạo ra những khoảng lặng cho người đọc ngẫm nghĩ.

Cây lá tự rứt mình trả nợ đất đai
Câu thơ rứt nỗi buồn chết không thành xác
Cuộc vay trả quy đồng cỏ rác
Rợn lối mòn ảo giác mùa thu.
(Ảo giác mùa thu)

Cá tính sáng tạo thơ tạo nghĩa với hai yếu tố triết và thiền của Nguyễn Khắc Thạch mạnh, hình thành nên bản lĩnh thơ. Các thi phẩm của anh đều mang dấu ấn hiện đại, nhân bản.
Giữa hai dòng thơ “phấn son” và thơ “lem luốc”, thơ Nguyễn Khắc Thạch thuộc dòng thứ hai.

“Thảy vốn liếng đời ta nhóm lửa yêu thương”, Nguyễn Khắc Thạch đã huy động óc tim cùng với “âm bản của nước mắt”, phát giác bề sâu sự vật, chế tạo được thứ cốt mìn chứa đầy buồn đau và trách nhiệm đang “nổ tung những nhịp thơ đá vỡ” (chữ của Nguyễn Trọng Tạo).

(Rút từ bộ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, Tập 3)

THÁI DOÃN HIỂU
| Thảo luận(2) |
Người nhà quê
17/09/2008 21:45
Một người làm thơ đầy bản lĩnh được một người viết phê bình thơ đầy bản lĩnh thấu hiểu, tri âm. Ông Nguyễn Khắc Thạch thật hạnh phúc. Thơ ông đúng như tên ông, ngôn từ như khắc vào đá. Người nhà quê gửi lời chào kính trọng tới hai ông. Mà sao ông Thái Doãn Hiểu nghĩ ra được cái titre hay thế?
levinhtai
17/09/2008 16:33
mấy đoạn trích thơ của anh Thạch, đoạn nào cũng hay... thật đúng là "những nhịp thơ đá vỡ"

Khi sư ông xả thân làm tín đồ thơ

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU 0 nhận xét

THÁI DOÃN HIỂU





Phạm Thiên Thư -
Khi sư ông xả thân làm tín đồ thơ !






Phạm Thiên Thư đang xem lại bộ Kinh Hiền Hội Hoa Đàm (Ảnh: kyluc.com.vn)


Phàm trần chưa rõ vàng thau
Chân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm.
VẠN HẠNH Thiền sư

Đã yên vị toạ thiền mà mắt còn lem lém liếc về cõi tục, đã đem thân nương cửa Phật những tưởng được cởi trói nào ngờ lại đem rợ chằng vào thân! Thật là đa đoan, đa mang, Phạm Đại đức rõ là một ông sư phá giới!
- Khoác cái áo "thiền sư ỡm ờ" đó liệu Phạm có vụng đường tu, hay trễ tràng kinh kệ?
- Thưa không!

Là nhà sư, Phạm Thiên Thư đã dốc toàn tâm tu hành. Nhưng Phạm không phải là một tu sĩ khổ hạnh ép xác khắc kỷ phục lễ, Phạm tu theo lối riêng. Lúc Phạm trì tụng:


Tay nào nghiêng nón thơ che
Tay nào lần chuỗi Bồ đề xanh xao
...
Nến khuya lửa hắt hiu vàng
Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
Ý nào hoá hiện ngàn hoa
Chữ nào ẩn nguyệt trên tà áo ni.
(Động hoa vàng)
Lúc Phạm hồi tưởng:

Mặt trời đỏ thẫm bên cồn
Dòng chim bay quẩy hoàng hôn qua đèo
Em ngồi bên suối cheo leo
Lơ thơ tóc biếc còn neo ráng vàng
((10)
Lúc Phạm trằn trọc:

Thoảng tiếng mưa rơi đậu trước thềm
Mùa thu gõ guốc gió qua êm
Chừng như cánh mộng cô hàng xóm
Nở với hoa quỳnh lúc nửa đêm.
(Mộng hoa)

Lúc Phạm vui: "Sông xanh xanh nhé một dòng - mùa xuân cắp rổ ra đồng với hoa" (Động Hoa Vàng). Lúc Phạm buồn chán: "Dài thân nằm ngẫm vô thường - Nghiêng vò đổ cái chán chường vào say" (47). Lúc Phạm nhớ thương: "Năm sau em bỏ đi rồi - Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn" (Động Hoa Vàng). Lúc Phạm yêu: "Trong hồn thơ, em là tượng biếc - Ngồi tung hoa xuống cõi mênh mông" (Tượng biếc). Phạm băn khoăn trước lẽ nhiệm màu Phật pháp:

Bước vào hỏi Đấng chí tôn
Bạch thầy: "Cái lẽ sinh tồn là đâu"
Hỏi chi Người cũng lắc đầu
Xuyên câu hỏi lại thành xâu bồ đề.
(27)

..và Phạm đã phát hiện ra cái hư vô siêu hình:

Soi mình thấy cái chơi vơi
Lượn bay như một cánh giơi mù lòa
Vào rừng đập vỡ cái ta
Hiện nguyên hình một đóa hoa đại quỳ.
(84)

Trời ! Phật tử mà lên chùa chắc chết mê chết mệt ông nhà thơ này ngâm thơ hơn là lắng nghe sư thầy Tuệ Không thuyết pháp? Đạo Phật đã thấm vào trong máu của Phạm, người thở ra là hơi thiền đạo. Thật đúng cốt cách của một thi sĩ hào hoa hơn là một đệ tử của Phật.

Vào trước và sau thập kỷ 70 của thế kỷ trước, Phạm Thiên Thư xuất hiện trên bầu trời thi ca Phật giáo miền Nam như một ngôi sao sáng.
Lấy các giáo lý của đạo Phật làm nền tảng tư tưởng, thế giới thơ ca của Phạm khai triển xoay quanh cái gốc này. Phạm mang khát vọng dấn thân với ý tưởng táo bạo muốn Việt hoá, thi hoá, trẻ hoá đạo Phật. Phạm đã cả gan viết lại kinh Phật bằng ngôn ngữ của thi ca và người đã tỏ ra khá tinh tế, lịch lãm trung thành với nguyên bản ý kinh.

Bài kệ chính yếu của Kinh Kim cương, Phật dạy: "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai" (dịch nghĩa: Nếu đem sắc tướng để mong nhìn thấy ta, hoặc đem âm thanh để nhận biết ta thì người ấy đã lạc đường, không thể nào gặp được Như Lai). Phạm Thiên Thư đã thi hoá với hình tượng như sau:

Dùng thân vàng thấy Phật
Dùng khánh ngọc cầu ta
Người đó lạc tà đạo
Đũa ngọc gắp sao tà
(Kính Ngọc)

Với cung cách đó, Phạm Thiên Thư đã cất công nỗ lực hết mình soạn lại Kinh Kim Cương thành Kinh Ngọc; Kinh Hiền Ngu thành Kinh Hiền, Kinh Hiếu; Kinh Pháp Cú thành Kinh Thơ. Với hàng chục ngàn câu thơ lục bát khá nhuần nhuyễn chở nặng những ngụ ngôn, truyền thuyết, huyền thoại, giáo huấn, với một bút pháp biến hoá, Phạm đã Việt hoá biến đức Thích Ca Mầu Ni thành đức Phật của Việt Nam, Ấn Phật thành Việt Phật. Những sai sót không thể không tránh khỏi khi Phạm Thiên Thư đã không nhìn nhận Kinh Phật như một văn bản để tụng niệm mà nhìn nó dưới góc độ một tác phẩm thi ca. Tôn giáo thường đem mình đồng hoá mọi người, còn Phạm làm thơ là tìm cách phân thân mình ra thành một người khác để ngắm nghía mình rõ hơn. Muốn chở được đạo - Phạm nghĩ - phải nhờ con thuyền nghệ thuật mới thấm sâu được vào lòng người.
Nếu một sư ông chỉ chắm chúi miệt mài với kinh kệ thì ta đâu có một thi nhân. Phạm Thiên Thư vốn thực con nhà nòi - nòi tình. Cái giống đa tình này là giòng giống chung của những ai nặng nghiệp bút nghiên.

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư là một thứ tình đầu đời của các trẻ mới lớn, đương choai. Nó như đoá sen trinh trắng nở giữa cuộc thế mong manh, chật hẹp, luôn tiếc nuối, ngầm đau, mất mát. Nhà thơ chỉ nhìn thấy "dáng em nho nhỏ - trong cõi xa vời". Giai nhân của Phạm mỏng manh như cái bóng, những em Ngọ, em Ngọc làm bằng hương hoa, không da thịt phàm trần. Người yêu của Phạm không có những em nào đẹp quyến rũ, mê tơi, bốc lửa. Người yêu của Phạm là những thục nữ yểu điệu, mềm mại như tơ, tha thướt như liễu, ảo như sương, khó cận kề được. Tấm thân các nàng sinh ra không phải là để hưởng lạc ái ân mà chỉ để tôn thờ. Phạm đã thành tâm tu hành dưới bóng mát của người đẹp bằng một thứ tình chay tịnh tinh khiết. Tiếng nói yêu đương của Phạm cất lên thủ thỉ từ trong các hoài niệm hồi chưa vào chùa: sáng rụt rè rước em này, chiều len lén đón đưa em nọ, những cuộc hò hẹn ấp úng trước cổng trường, cổng chùa, bên gác chuông, những ánh mắt thơ ngây hồn bướm mơ tiên đưa tình qua cửa Phật. Ta cứ luôn thấy trái tim thắm đỏ của nhà thơ đập phập phồng, rối rít một nỗi em em dưới lần áo nâu sồng. Với tấm chân tình đằm thắm, trong cõi phù sinh, thế cũng đủ cho lòng người diệu vợi chơi vơi. Phạm yêu là để thấm thía cái bọt bèo của kiếp người.

Việc một tu sĩ Phật giáo làm thơ tình nghe ra cũng ngồ ngộ thiệt nhưng đó là một việc hợp lẽ tự nhiên. Thực ra, chuyện này Phạm bị oan. Mà thôi... tôi cần chi phải nói ra. Cứ để Phạm mang cái nghi án trái ngang này cho thêm phần sương khói ảo huyền. Có điều cần phải hiểu về Phạm: ta không thể nào tìm thấy sắc dục, vật dục trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó hoàn toàn thánh thiện. Phạm Thiên Thư không thể đắc đạo nhưng bạn đọc vui mừng có được một chàng Phạm Thái tài hoa mới.

Em nằm dưới mộ bi
Buồn không trăng đầu dẫy
Nhớ xưa em dậy thì
Bâng khuâng nhìn trăng lên
(Trăng mộ)

*
Pháp Loa nói: "Khẩu thuyết xuất gia, tâm hành thế nghiệp..." (Miệng nói xuất gia nhưng tâm theo chuyện thế tục...). Với Phạm Thiên Thư, chuyện thế tục là chuyện văn chương ngàn năm thiên cổ sự.

Trong thâm tâm Phạm Thiên Thư rất kính trọng thiên tài Nguyễn Du với tập đại thành Truyện Kiều. Chính thi tài của Nguyễn đã cho phép người mượn một chuyện lá cải của Trung Hoa để giãi bày chữ tiết trong tâm sự u uẩn của mình mà làm nên danh tác, nhưng Phạm không phục và chấp nhận Nguyễn đã vay mượn quá nhiều từ đề tài, cốt truyện, văn liệu, địa điểm, thời gian, điển cố.... Tinh thần dân tộc cực đoan đó đã dẫn tới việc Phạm dám táo gan viết Hậu Kiều với tên mới Đoạn trường vô thanh (Niềm đau không tiếng) nối điêu vào kiệt tác của một thiên tài! Dưới ánh sáng của Kinh Kim cương, Phạm viết Hậu Kiều là để thấm đậm tư tưởng của đạo Phật cùng ý thức Việt hoá, thoát ly hẳn những ảnh hưởng ngoại lai trong việc tiếp thu di sản văn hoá của cha ông. Đoạn trường vô thanh đề cao dân tộc, thiên nhiên và lao động, coi như cội nguồn của thân - tâm giúp con người vượt thoát, phục sinh khỏi mọi bế tắc tư tưởng để sống khỏe mạnh, an hòa và tiến hóa, giải thoát khỏi tai ách vận nghiệp quá khứ, Đoạn trường vô thanh gồm 27 chương, 3.296 câu lục bát, dài hơn Tân thanh 42 câu. Mỗi chương được trình bày như một bức tranh về đời sống nàng Kiều. Tác giả đã xoá bỏ mọi điển tích từ chương Hán, thay thế bằng hình ảnh, anh hùng điển cố, lịch sử thuần túy Việt Nam: Trần Hưng Đạo chỉ kiếm xuống sông Hoá thề diệt giặc thay cho Kinh Kha, Từ Thức cởi áo từ quan thay cho Lưu Thần Nguyễn Triệu, tâm trạng Mai An Tiêm bị đày thay cho Chiêu Quân cống Hồ và Tô Vũ bị cầm tù xa cố quốc, sông Thương thay cho sông Tiền Đường, những Tiên Dung - Chử Đồng Tử, Tản Viên, Thánh Gióng, Bạch Vân... cũng không bỏ sót. Phạm Thiên Thư đã thổi một luồng gió mát ca dao dân ca, tục ngữ dân tộc vào tác phẩm. Các phong tục tập quán được khai thác triệt để.

Cho thơ hoà với mênh mang
Cho mênh mang đọng hạt đàn vô thanh

Đoạn trường vô thanh là truyện thơ hư cấu nghệ thuật nối tiếp Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du từ sau ngày Kim - Kiều tái hợp. Bản cáo trạng cuối cùng này của thi hào Nguyễn Du được nhà thơ Phạm Thiên Thư đẩy tới cao trào trong tiếng kêu thương lặng chìm, không tiếng. Hậu Kiều có thêm một số nhân vật mới: Tiểu Nguyện là con gái Thúy Vân và Kim Trọng; Trần Nguyện Mai là chiến hữu của Từ Hải tại Giao Châu; Hồ Ông là dòng dõi Hồ Quý Ly lưu lạc bên Tàu thời Minh, thầy học của Kim Trọng, Vương Quan và Thuý Kiều, người chủ trương học phái "tri hoà hành hoá" (biết nên hòa, làm nến hóa) đặc biệt từ dân tộc Việt; Ẩn Lan là con gái Hồ Ông, người yêu đầu đời của Vương Quan; thầy Văn Chương là nhà sư sáng lập phái "Thi tông" dùng thi ca khai mở Phật tánh, thầy dạy Đạo cho Thuý Kiều; Ngô Khôi là học trò của Hồ Ông sau này (thời Hồ Ông ở ẩn). Tác giả đã dời địa điểm của truyện về đất Phong Châu, nước Đại Ngu. Những địa danh: Đá trắng, Mai Sưu, Đa Cóc, Yên Mô, Đền Mẫu... đều thuộc vùng Chí Linh, Hải Dương - nơi Phạm Thiên Thư lớn lên thời thơ ấu và niên thiếu tại điền trang của gia đình (1943 - 1951).

Với Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã thi hoá Thanh Tâm Tài Nhân, diễn bày số phận Thuý Kiều trong một xã hội thối nát, thì với Đoạn trường vô thanh, Phạm Thiên Thư diễn bày cái tâm thức trưởng thành của Thuý Kiều như đoá hoa ngát hương trong vũng lầy xã hội phong kiến. Hai quyển Kiều có chỗ nhất quán là cuộc đời, ý thức vượt lên định đoạt thân phận con người, đòi quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc. Nhân vật trung tâm, người anh hùng, "người vác thập tự trong cuộc đoạn trường" của Hậu Kiều vẫn chính là nàng Kiều tuyệt tài, tuyệt sắc, đa tình và đức hạnh chứ không phải ai khác. Nàng đã giở sang trang đời khác với cuộc sống mới sang trọng và bình yên. Chỉ vì lòng tự trọng, tự tôn người tình xưa, Kiều đã chủ động đổi tình cầm sắt ra cầm kỳ. Đường đường là một quý bà - bạn thân của quan huyện Kim danh giá, nhưng tuổi thanh xuân mới chẵn 30 của nàng đã chết trong cảnh sống độc thân vò võ. Thân tâm Kiều vẫn đầy giông bão nội tâm. Đã xa rồi cảnh tượng hãi hùng "Canh khuya, thân gái dặm trường", đời đã hửng sáng, nhưng Kiều vẫn bị ám ảnh vẩn vơ bởi tài mệnh tương đố, duyên nghiệp nhân quả, tình là dây oan, cùng những tín ngưỡng dị đoan đè nặng lên số kiếp. Viết Hậu Kiều, Phạm Thiên Thư vẫn phải thủ vai một nhà tư tưởng và người nghệ sĩ với trái tim nhân hậu thăm sóc nốt phần đời còn lại cho nàng. Đó là cách nhà thơ muốn giải vận nghiệp dân tộc. Qua những biến động ghê gớm của cá nhân lịch sử, chúng ta đi tìm cái chúng ta đã mất. Không như Nguyễn Du, Phạm Thiên Thư không trà trộn các ngôn ngữ triết thuyết khác nhau Nho Phật Lão chen lấn vào. Kiều vẫn bị hành hạ tâm linh. Phạm buộc để cho Kiều tiếp tục nghĩ suy về lẽ hưng phế của cuộc thế, trời đất với ý hướng tích cực:

Xét trong trời đất vô cùng
Biển dâu sắp đặt lạ lùng cao xanh
Bao nhiêu cung điện tan tành
Xô đi dựng lại dưới vành trăng tươi
Thăng hoa cuộc sống con người
Phế hưng trải rộng lẽ trời tự nhiên.
(Chải tóc thu phong)

Kiều thật cả nghĩ. Nàng luôn băn khoăn lục vấn, triết luận kiếm tìm nguyên nhân nào đã đẩy con người vào vực thẳm. Tai họa nghiệt ngã đâu có trừ riêng ai:
Hay rồi một trận gió mưa
Bùn đen kia hẳn không chừa đài hương
(Khói mờ ngoài sông)

Trong cái hỗn độn đó, kiếp người thật mong manh, ngắn ngủi, vô nghĩa:

Đời người như cánh hoa lay
Trần gian thơm một đôi ngày lại thôi
(Chải tóc thu phong)

Thật là mung lung, rối tri :

Trách lòng tự đúc nên khuôn
Trách người chia những vai tuồng thấp cao
Vui buồn trong giấc chiêm bao
Rồi đem vọng tưởng khép vào tâm can.
(Tẩy nước cành dương)

Tinh thần bấn loạn, con người chuốc vào thân những "vọng tưởng" để tự hành tội mình. Chỉ từ khi thấm nhuần triết lý sống của thầy học Hồ Ông, Kiều mới cảm thấy tịnh tâm, thanh thản hơn, sao cho trong trùng vây của ý thức tư tưởng phải vượt lên để không sống uổng những ngày thừa còn lại:

Thường khuyên: mình đã loạn mình
Cái tâm khiến lụy cái hình lao đao.
Truyền đời xây tiếp tâm lao
Càng giăng bẫy quỷ, càng nhào khe ma
(Khói mờ ngoài sông)

Suy nghĩ của Kiều trên đường quy cố hương thật đáng lưu ý. Những câu hỏi đau đáu nhói buốt xuyên qua tâm trí nàng về cõi thế mù loà này vẫn tiếp tục dày vò nàng:

Cõi người chất ngất hờn oan
Cuộc cờ bày xoá mấy bàn đua tranh
Ném ra xe ngựa tung hoành
Thu về còn lại một vành trăng suông
(Mây thu cuộn vàng)

Giải pháp chữ tâm mà Nguyễn Du đặt ra cuối Truyện Kiều còn được Phạm Thiên Thư tán thành và khai triển tiếp nối. Bước chuyển biến trong nhận thức nàng Kiều tuy có chậm chạp, như lời dạy bảo của nhà sư chùa Văn Chương "Con người cứ mãi xa nguồn - đày mình giữa những chán chường quẩn quanh", nhưng cuối cùng cũng tới đích. Thuý Kiều về quê, núi non vùng trung du Chí Linh đã giúp nàng ngộ được cái chân lý cao quý, cái hạnh phúc xa vời mang mang nội tại trong tâm từng giúp nàng tự chỉnh trong tha hoá đau khổ:

Mặc ai tìm kiến Tây Thiên
Riêng ta biến cái não phiền thành hoa.
Hoài công sớm tối ê a
Chi bằng hái cúc ươm trà ngẫm thu
(Bao năm tơ tưởng)

Thiên nhiên và lẽ biến dịch sẽ làm nhiệm vụ thanh hoá con người. Phải chăng cái nôi thiên nhiên, quan hệ nhân văn đã tạo nên tâm đức Kiều từ lúc chào đời, từ màu xanh thôn mạc đến những tín ngưỡng dân gian từng ám thị vào tâm thức?; vượt khỏi những hệ lụy, định kiến tôn giáo đưa Kiều gắn bó sâu xa với đất nước ông cha, mang lại cho nàng niềm vui, sức sống và sự ổn định tâm hồn?

Cho thơ hoà với trăng sao
Cho trăng sao hoà chiêm bao cõi người
Khí thiêng sông núi nên lời
Cỏ cây giam kín một đời tinh anh
(Tìm động hoa vàng)

Nét đặc sắc trong Hậu Kiều là những lần Kiều đánh đàn. Mỗi lần nàng so đây là mỗi khác. Tuỳ tâm trạng buồn vui mà âm thanh biến ảo dưới ngọn bút kỳ tài của thi nhân.
Trong đoạn đoàn viên, sau khi dở ngón đàn tuyệt diệu đánh cho Kim Trọng nghe, nàng thề sẽ cuốn dây từ đấy, nhưng rồi nó như một nghiệp dĩ, một công cụ giải buồn khó từ bỏ được. Đây là lúc thanh vắng, Kiều độc cầm:

Giờ Kiều lại nối âm thanh
Thử đem sương gió tựu thành cung dây
Tiếng đàn rã liễu rời mây
Ngón tay dã hạc vờn bay dặt dìu
Hai hàng lau lách đìu hiu
Đồi phong lá gọi bóng chiều xác xao
(So dây gợn sóng)

Lúc đó, chàng Kim đến, nghe lén, đề nghị đổi âm sắc, đàn lại chuyển cung vui:

Hồn xanh xanh ngắt da trời
Hoa thu não ruột rung mười ngón son
Nửa cung ngơ ngác trăng non
Nửa cung nắng quái sông còn vàng phai
(So dây gợn sóng)
Nghe tiếng đàn của kỹ nữ bây giờ ở huyện đường do Kim Trọng chiêu đãi, Hồ Tôn Hiến hồi tưởng ngón đàn của người "giết chồng, cứu nước" trong ngày tàn binh lửa hồi nào "Tay Kiều lướt mấy đường tơ - năm cung còn đến bây giờ vọng vang":

Bốn dây như điếng như tê
Nỉ non oán động, não nề sầu câm
Bây giờ vẫn thoảng dư âm
Tiếng đàn than lặng khóc thầm bấy nay
(Những đêm tàn rượu)

Nhờ tiếng đàn của Thuý Kiều mà Hồ Tôn Hiến giải thoát được khỏi con mắt ám ảnh của Từ Hải khi chết:

Tưởng chừng chim hợp mây tan
Đậu về reo hát hiên ngoài triền miên
Hồ nghe nhẹ bẫng ưu phiền
Dây đàn ấm mạch suối thiêng tỉnh người
Mắt Từ như cánh hạc trời
Bay lên mất hút ở nơi vô cùng
(Dậy sống Tiền Đường)

Và đây là tiếng đàn tri kỷ Kiều vọng tưởng Từ Hải:

Cây đàn trên ngựa phân vân
Bốn dây tay chợt buông ngân tiếng hờn
Tiếng chi thác đổ mây vờn
Chừng nghe kiếm gẫy xanh rờn lửa reo
Tiếng chi suối lệ tuôn theo
Chừng nghe sương tụ, gió heo hút đời.
(Vương mấy tơ đồng)

Thăm mộ Từ Hải, trong ký ức Kiều, hình bóng đấng trượng phu hiện lên ngang tàng, lãng mạn "Tưởng chàng bẻ kiếm dựng râu - Nốc nghiêng bát rượu, trên đầu cài trăng". Tiếng đàn đồng vọng lập tức vang lên trong lòng cố nhân:

Tiếng ngân chìm đắm mơ màng
Một dây to nhỏ hồn man mác trời
Buông chi tiếng nhặt tiếng rơi
Trong u ẩn gió nghe tơi tả lòng
(Chải tóc thu phong)

Kiều hồi tưởng buổi tối đánh đàn cho Kim Trọng và sư thầy Văn Chương nghe. Nhà sư trợ điện giúp Kiều tỉnh thức khỏi nghiệp đàn, hoà tâm cảm vào thiên nhiên đại Đạo:

Mây ùn mười ngón lâng lâng
Viền trăng hư ảo trên tầng khói xây
Đất dồn nhựa mạnh ngất ngây
Ánh trăng đọng xuống mấy dây lặng chìm.
(Tơ thiêng nhập hóa)

Tại sao con người lại ngu ngốc đem lòng giam vào hữu thanh? Trong phút chốc bừng tỉnh, Kiều đã hoàn toàn giác ngộ:

Diệu hành là tiếng không ta
Không âm thanh ấy mới là âm thanh
(Vương mấy tơ đồng)

Tiếng đàn trong Hậu Kiều quả là cả một nghệ thuật thiền, một công án thiền. Lắng nghe những âm sắc Kiều gảy, mỗi người tự mở ra cho mình một chân trời riêng.

Trong lần hành hương về Tiên Điền mới đây, Phạm Thiên Thư đã ngoại cảm bên mộ Người:

Nguyễn Du đâu phải nhìn không ra
Đem chuyện Tàu thi hóa tiếng ta
Hẳn muốn chứng minh cho học giới
Tiếng mình dư sức tỏa hương hoa
(Năm 2000 đọc lại Nguyễn Du)

Phạm đã tỏ ra thông cảm và nhìn nhận đúng bản chất của văn hoá vay mượn. Nếu ham chuộng thái quá thì "nô dịch đưa voi đạp mộ nhà". Theo Phạm, Nguyễn đã không còn "Rút hay người thêm để hay ta" mà còn tiến xa hơn "tỉnh thức dòng nô dịch - Kinh viện hơn Tàu mới dễ xoay"; rõ ràng là "Cụ không thuần túy làm văn nghệ - Hay đẹp dùng như dấy nghĩa binh". Hẳn "nho ta" đã nhận thức ra nguyên lý "Tự chủ đầu tiên phải giữ hồn - Có cố tâm mới vững biên cương".

Bám chắc vào cơ sở tiếng Việt thuần tuý giàu và đẹp, không hề vay mượn, ngôn ngữ của Phạm Thiên Thư được chắt lọc tinh túy nên đẹp óng ả, gợi tình.
Chất tạo hình trong thơ có họa của Phạm Thiên Thư khá phong phú, điêu luyện. Những vật vô tri đã bộc lộ được tính linh con người. Hình sắc, ánh sáng, bố cục, không gian, thời gian trong bút pháp uyển chuyển và linh hoạt của Phạm Thiên Thư đã vẻ ra được những bức tâm cảnh điêu nghệ. Đây là khoảnh khắc Kiều bâng khuâng hồi tưởng "Tiểu khê cỏ vẫn xanh gầy - Mùa thu chết đuối bóng mây giữa dòng" (Kiều ngồi ven suối). Một nét phác thảo dung nhan: "Người buồn lãng đãng sương mù - Gió tai tái lạnh về ru nét mày" (Mây thu cuộn vàng). Cảnh bồn chồn trên đường hồi hương: "Cỏ cây thấp thoáng qua màn - Dập dồn vó ngựa gõ khan mặt đường" (Mây thu cuộn vàng). Cảnh Kiều trở lại viếng sư thầy ân nhân Giác Duyên "Non xưa am vắng u hoài - Cây trơ sắc nhớ, cỏ dài ngọn trông" (Tẩy nước cành dương). Tả nhớ mong đợi chờ "Tóc nàng dài sợi hoàng hôn - Cò bay dằng dặc cô thôn gọi chiều" (Bao năm tơ tưởng). Tả tâm trạng hoang mang, rối loạn: "Tỉnh ra thương phận lạc loài - Tưởng hoa còn rụng trên vai liễu mềm" (Lắng tiếng chim vang). Tả bàn chân đi nặng ưu tư giữa chiến trường xưa: "Rã rời từng bước rêu nhung - Hài gieo giữa cõi vô cùng hoang mang" (Chải tóc thu phong), lúc lại rưng rưng "Bước chân nẫu nhớ mùi quê - Đất truyền nhựa mạnh, mừng tê tái mừng" (Bao năm tơ tưởng). Những chấm phá liên tưởng sắc nét: "Chim nào hót giữa lùm mai - Chừng như thoảng tiếng thở dài trên yên" (Chải tóc thu phong), "Sườn non nửa mảnh trăng nhô - Cong thành một nét mơ hồ mi ai" (Chải tóc thu phong), "Cho sầu thêm võ hoa dong - Tỳ bà đẫm một nét cong trăng vàng" (Năm cung trường lệ)...

Phạm đã miêu tả vẻ đẹp của ngoại cảnh để đi sâu vào thế giới tâm hồn nhân vật. Tác giả bài trí thiên nhiên rất có trọng tâm, phép đậm nhạt liều lượng dùng có chủ ý. Tính cách nhân vật được xây dựng trên nhiều nền vẻ của thiên nhiên. Cái này làm nổi cái kia, cái kia tôn cái nọ. Phạm đã sử dụng thành thạo và nhuần nhuyễn thể thơ lục bát như cây thiết bổng trong tay Tôn Hành Giả. Tài dùng chữ của Phạm có chỗ đạt đến trình độ "hoá công".

Cây cầu lửng giữa trăng sao
Phải chăng cửa ngõ đi vào huyền căn
Tiếng tơ kết kén ôm tằm
Biết đâu hoa bướm trăm năm một lần.

Phạm có những đoạn thơ quỷ khốc thần sầu:
Lên non trẻ hái hoa vàng
Còn reo nhặt được kiếm han rỉ cùn
Đêm về bần bật kiếm run
Mồ hồi thép toát hiện hồn ba quân.
(Mây thu cuộn vàng)

bên những câu thơ thanh tao, dung dị:

Tàng hoa trắng cội phù vân
Tiếng chim khuyên rụng trong ngần như sương
Bao năm vẫn một mùi hương
Trước sau thơm đến dị thường trong ta
Phải chăng hoa của quê nhà
Thơm trong hoài niệm mới là mãi tươi.
(Lắng tiếng chim vang)

Bút pháp tả cảnh, tả tình của Phạm Thiên Thư khá là cổ điển, rất Nguyễn Du. Ngôn ngữ thi ca của Phạm Đại đức đã làm cho chúng ta khó mà nhận ra được vết hàn nối giữa hai tác phẩm Truyện Kiều và Hậu Kiều:

Sông dài cởi yếm hoàng hôn
Bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay
Gió về đưa ngọn sóng say
Tiếng ca mục tử cuối ngày gọi trâu
Bãi xa cỏ tím rầu rầu
Mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa
(Ai để hoa dung)

Bè ai thả vó ven đê
Nửa ngâm ráng đỏ, nửa kề mây xanh.
(Chải tóc thu phong)

Mênh mang hoa trải gấm phơi
Hoa lay tưởng ngọn bút trời phê văn
(Lòng như khối ngọc)

bên những âm hưởng trữ tình trong trẻo, thắm khỏe, mộc mạc của ca dao nơi tâm trạng Vương bà nhớ quê xa:

Quê nhà dù cất mái tranh
Mà trong thân tộc, mà quanh bạn bè
Hiền hòa khóm trúc bờ tre
Vẳng nghe tiếng Cuốc sang hè gọi khan.
(Khói mờ ngoài sông)

Thật đúng là "Tưởng ngày hoa lạc long đong - Niềm quê sợ cả nỗi mong vụng thầm".

Trung thành với phong cách ngôn ngữ Truyện Kiều của Nguyễn Du, Phạm Thiên Thư đã vượt qua bút pháp ước lệ tượng trưng của chủ nghĩa cổ điển, khai triển tứ thơ nhẹ tự sự, nặng trữ tình trong những màn độc thoại nội tâm sâu sắc tình tiết, lớp lang. Đọc Đoạn trường vô thanh, bạn độc sẽ hỏi: đây là tiểu thuyết bằng thơ? hay khúc ngâm? Rõ ràng nghiêng về khúc ngâm. Da thịt Hậu Kiều thì hồng hào tươi tốt, nhưng xương cốt của nó lại mềm yếu. Bằng cách để cho các nhân vật hồi ức, Phạm Thiên Thư đã tô đậm thêm những chỗ còn thiết sót và mờ nhạt của Truyện Kiều Nguyễn Du. Nghệ thuật biểu hiện linh hoạt và ngôn ngữ cẩm tú của Đoạn trường vô thanh có khá nhiều câu, đoạn, chương hay nghiêng ngửa với Đoạn trường tân thanh. Hai quyển Kiều có giá trị bổ sung nâng đỡ làm đẹp cho nhau, chứ không phải loại trừ nhau như có người lầm tưởng.

Những chương, đoạn: Về cuộc du sơn (Bức thứ 3: Ruổi rong nhật nguyệt, từ câu 45 đến 114); So dây sóng gợn (Bức thứ 5, từ câu 199-266); Thăm lại am Giác Duyên (Bức thứ 8: Tẩy nước cành dương, từ câu 645-752); Năm cung trường lệ (Bức thứ 9, từ câu 753-782); Vương Quan thương nhớ Ẩn Lan (Bức thứ 16: Ai để hoa dung, từ câu 1756-1816), Vương Bà nhớ quê (Bức thứ 18: Khói mờ ngoài sông, từ câu 1967-1980); Kiều thăm mộ Từ Hải (Bức thứ 20: Chải tóc thu phong, từ câu 2.299-2.334); Thúy Kiều trở lại cố hương (Bức thứ 22: Mây thu cuộn vàng, từ câu 2.719-2.770); Kiều thăm mả Đạm Tiên (Bức thứ 25: Kiều ngồi bên suối, từ câu 3.065-3.144)... có thể xem là những tuyệt bút.

Trong bốn người viết nối Truyện Kiều, nhà thơ Phạm Thiên Thư là người xuất chúng thành công hơn cả. Phạm Thiên Thư đã đem hết can đảm, tài năng, tấm lòng khóc thương Tố Như vĩ đại bằng cách tạo tác ra được một lâu đài thơ tráng lệ, tỏ rõ là một môn đệ âm tri kỷ của Người. Hẳn Nguyễn tiền bối cũng được ngậm cười nơi chín suối.

Đoạn trường sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu.

Hạt châu lấnh lánh - đuốc tuệ tỏa sáng soi đường cho ta tìm về với những giá trị thiêng liêng giữa cội nguồn dân tộc.

Đoạn trường vô thanh chiếm giải Nhất thơ (bộ môn trường thiên) năm 1973 do cụ Á Nam Trần Tuấn Khải làm chánh chủ khảo. Tác phẩm đã được in đi in lại nhiều lần ở trong và ngoài nước

Kìa đường dân tộc mong tìm mở
Đây khách tâm hồn khó nín thinh
Vận mới khơi thêm dòng nhiệt huyết
Điệu xưa tô lại nét thâm tình
Đoạn trường - ai đã qua cầu ấy
Lắng thử Vô thanh tiếp Hữu thanh.
(Cảm đề - Á Nam Trần Tuấn Khải)

Sau ngày miền Nam giải phóng 30-4-1975, Phạm Thiên Thư chuyển sang hoạt động y học. Là người sáng lập và là chủ trường phái chữa bệnh bộ môn Điện công Phathata hay thể dục thân tâm, Phạm không quên mình là nhà thơ, đã sáng tác một số thơ vui vho người bệnh thư giãn thần kinh, phục hồi sức khỏe. Đưa tiếu lâm vào lâm sàng cũng là cách phát huy tinh thần "nụ cười bằng mười thang thuốc". Trong dưỡng sinh, đa số học viên già, mang nhiều chứng bệnh mãn tính, nhất là chứng buồn. Thơ vui đã làm các cụ bớt căng thẳng, ăn ngủ dễ hơn. Phạm đã chọn thể thất ngôn tứ tuyệt với ngôn ngữ dung tục, ngộ nghĩnh, đề cập đến những vấn đề gần gũi đời thường:

Áo tắm dùng khi xuống pít-sin
Cốt che đại khái chỗ ưa nhìn
Chỉ riêng phải mặc thi hoa hậu
Trình rõ eo đùi, kiểm chứng "dzin"
(Áo Tắm)

Hoặc cũng có bài nặng chất thơ:
Mùa thu qua nhà thăm giậu cúc
Em nghiêng hái hoa, xanh áo lục
Mùa đông qua nhà hỏi cội mai
Sao đẹp như em chồng vẫn "đục"
(Cúc)

Có khi lại khai triển một nhân vật tiểu thuyết hay giai thoại:

Kim mơ thấy chàng là chú rể
Vào nhà Vương ông rất oai vệ
Kiều nhi chúm chím cười như hoa
Mà sao long lanh đôi ngấn lệ.
(Chú rể)

Ngoài bộ Tiếu liệu pháp, Phạm Thiên Thư còn viết Huyền ngôn. Những lời huyền diệu này giống như danh ngôn, chở nặng những thông điệp tư tưởng. Huyền ngôn của Phạm Thiên Thư đã suy ngẫm, thai nghén, đúc rút trên từng chặng đường đời của tác giả, được chia ra nhiều phẩm :
Những loài hoa không tranh cãi nhau ngoài đồng về phẩm giá của mình. Cái đẹp chỉ đẹp trong muôn hương ngàn sắc, huống chi chúng ta cứ muốn giành lấy sự toàn vẹn cho riêng mình.
Bên dưới chùm cẩm tú cầu xanh biếc như vẩy ngọc có ẩn một chú sâu vàng.Ta có nên nhặt ra hay để chú sâu nghi kỵ tiệt đứt mọi công quả ?Ta không sợ nắng gió làm hoa không rực rỡ, chỉ e sự hủy hoại đã phục sẵn lòng hoa.
Ai cũng giành trồng những loại hoa quý cho riêng mình, chẳng ai chịu tưới xanh một thảm cỏ cho châu chấu trú ngụ. Chỉ có trời là rộng lượng với muôn loài.
Đóa bụt hồng ngoài bờ giậu đâu phải nở cho thi nhân. Cánh bướm trên cỏ xanh đâu phải bay vì hương sắc. Muôn loài đều vì chính mình. Bạn chớ bận tâm về những lời phẩm luận của thế tục.
Bông hồng nhung nở cúi chào mặt trời buổi sáng, trên đài hoa đang ứa những hạt lệ khóc giã biệt chiều tà. Từng khắc một vừa sinh vừa hoại diệt. Ta chớ buông từng hơi thở vô công.
(Phẩm hương hoa)
Ngọc nhiều loại góp vào càng làm tôn vẻ đẹp lẫn nhau. Người tài vô đức ở đời ngồi lại tự bôi bẩn lẫn nhau.
Đào xuống nghìn thước không chắc kiếm được vàng ngọc. Chỉ cần bới mấy tấc đất trồng cây, tới mùa có thể đổi được hàng trăm thứ quý.
Sắm ngọc ai cũng muốn chuốc cả đôi. Tài nghệ thì ai cũng muuốn riêng mình độc đáo. Họ chèn ép nhau để chẳng ai bằng được riêng mình. Nhờ vậy mà trăm hoa đua nở rộ. Ấn xuống chính là giúp người khác vọt lên cao.
Của trời bao la chẳng ai thèm lấy. Châu ngọc vung vãi chẳng ai thèm vơ. Nhưng chỉ vài hạt thóc lép họ moi móc vào tận đáy túi của nhau.
(Phẩm Ngà ngọc)
Kẻ đắc ý cả cười, mắt cũng rưng lệ. Người thất cơ thầm khóc, nước mắt đẫm chéo khăn. Được - mất, thành - bại, khóc- cười, hạt nước mắt đều tròn giống nhau.
(Phẩm Khóc cười)
Huyền Ngôn của Phạm Thiên Thư đọc rất thú . Có thể nói đó là những áng thơ văn xuôi tuyệt mỹ. Tôi nhớ có lần Phạm Thiên Thư bàn về thơ, khá xác đáng trong trường hợp của người: "Thơ hay phải dày kinh nghiệm, phải chiếm cảm quan, phải san trí tuệ, phải để trong tâm, phải trầm trong nhạc, phải nạp trong tình, tụ hình nơi khoảng trống, để sống với tất cả".

*
Tổ quốc của các tu sĩ là tu viện. Phạm tuy thân ở trong chùa những tâm lại ở ngoài chùa. Nhà sư bồ tát này lo cả việc đạo lẫn việc đời, chuyên chú chu toàn cả hai. Toàn bộ thi phẩm của Phạm Thiên Thư nhuốm sắc thái đặc biệt khác người vừa đạo vừa đời, sắc bất dị không, không tức thị sắc và rất Việt Nam.

Từ việc thi hoá những bộ kinh cốt tùy của đạo Phật, Việt hoá thiền qua 10 bài Đạo ca (nhạc Pham Duy) đến việc nối điêu vào Truyện Kiều, viết Huyền ngôn, Sử thi, từ điển cười Tiếu liệu pháp, khai sáng môn Điện công Phathata... tiếp tục biểu dương tinh thần y dược dân tộc, cái đầu của Phạm Thiên Thư thật đáng sợ. Ý thức tự tôn dân tộc cao cả và thái quá của Phạm là động lực thúc đẩy nhà thơ sáng tác. Tinh thần tiến công khoa học, vượt người xưa là một thái độ đáng nể trọng. Phạm Thiên Thư chỉ vụt qua bầu trời thơ ca miền Nam như một ánh sao băng. Mới 35 tuổi đời (1975), Phạm để lại mười vạn câu thơ! Chúng tôi đã tập trung đọc ròng rã một tháng nhưng vẫn không hết những cái Phạm đã viết. Người hẳn có tới "mười cánh tay" - một cỗ máy làm thơ khủng khiếp, ào ạt. Kinh Hiền với 12.000 câu viết trong một năm rưỡi; tập thơ Quyên từ độ bỏ thôn Đoài 112 bài thơ viết trong 23 ngày. Trong núi thơ đó, cái hay nhiều, cái dở cũng lắm. Chúng tôi thật sự phân vân. Phạm Thiên Thư sáng tác nhiều như vậy nhằm mục đích gì? Làm thế cái lượng tránh sao khỏi lại không làm nhảm cái phẩm của mình ra?
(Rút từ bộ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, tập 5)

THÁI DOÃN HIỂU

BẢNG TRA CỨU Về THÁI DOÃN HIỂU

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Hai, 8 tháng 3, 2010 0 nhận xét


(I)                LÝ LỊCH :
1- Tiểu sử văn hóa

2- Bá Nha - Tử Kỳ

3- Liên lạc :
      THÁI DOÃN HIỂU
      414/10B Nguyễn Duy Trinh, P.Bình Trưng Đông Q.2. Tp Hồ Chí Minh
      Email:  http://hieu.thaidoan@gmail.com
      websites : http://thaidoanhieu.blogspot.com/
Websites: www.3tgroupi.com
Google : thaidoanhieu
Mob: 01 287 793 354
Máy bàn : 08 22 194 879

(II)             THƯ MỤC QUA WEBSITES RIÊNG :

(III)          THƯ MỤC THÁI DOÃN HIỂU
            TRÊN CÁC WEBSITES KHÁC

(IV)    THƯ MỤC google THAI DOANHIEU

(V)    NHỮNG BÀI VIẾT TIÊU BIỂU CỦA THÁI DOÃN HIỂU

…  (VI)      NGƯỜI LƯU DANH CHO THƠ CA
……(Đang soạn)


CHÂM NGÔN SỐNG VÀ VIẾT
              của Thái Doãn Hiểu


Tôi trước tác là để phổ biến tâm thuật chứ không phải  để kiếm danh kiếm lợi.
                                                         THÁI DOÃN HIỂU

Tôi viết phê bình là để làm sáng giá và sang giá tác giả, tác phẩm văn học
…                                                    HOÀNG NGỌC HIẾN

Mỗi ngày gặp một người, họ là mảnh của thiên tài nhân loại. Hãy nhặt những chữ của đời mà viết nên trang.   CHẾ LAN VIÊN

Sở dĩ tôi nhìn được xa trông được rộng là bởi tôi đứng trên vai những người khổng lồ.                                        NIU TƠN

NÓI CHUYỆN VỀ CA TRÙ

Người đăng: THÁI DOÃN HIỂU Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010 1 nhận xét

25-01-2010
MỜI DỰ BUỔI NÓI CHUYỆN VỀ CA TRÙ
THƯ MỜI

Nhân chuyến công tác tại TP. Hồ Chí Minh, tôi có buổi nói chuyện tại nhà riêng của Giáo sư Trần Văn Khê về chủ đề:

LỊCH SỬ VÀ VĂN CHƯƠNG CA TRÙ VIỆT NAM

nhằm chia sẻ với những người yêu mến nghệ thuật cổ truyền về lịch sử và nghệ thuật văn chương của Ca trù - bộ môn nghệ thuật vừa được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa thế giới.


Thời gian: 19h30, Thứ Tư, ngày 27 tháng Giêng năm 2010.
Địa điểm: Nhà riêng GS. Trần Văn Khê, 32 Huỳnh Đình Hai,
Phường 24, Quận Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh.
Vào cửa tự do


Trân trọng kính mời các quý vị quan tâm đến dự.
Nguyễn Xuân Diện
.
***
*Buổi nói chuyện có sự hiện diện của GS Nguyễn Đăng Hưng, nhà biên khảo Nguyễn Quảng Tuân, TS Nguyễn Nhã và phu nhân, danh cầm Hải Phượng, Luật gia Hoàng Việt và phu nhân, các nhà nghiên cứu ở Học viện âm nhạc quốc gia TP Hồ Chí Minh, các nhà báo và các bạn sinh viên.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BUỔI NÓI CHUYỆN TẠI NHÀ GS TRẦN VĂN KHÊ


GS. Trần Văn Khê giới thiệu về Nguyễn Xuân Diện


Nguyễn Xuân Diện bắt đầu buổi thuyết trình bằng việc giới thiệu cuốn sách Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù


Đào nương hát ca trù luôn giữ cho khóe miệng hình chữ "nhất"(-)


Thính giả ngồi chật kín căn phòng khách rộng của GS Trần Văn Khê


Nguyễn Xuân Diện nói chuyện say mê


THĂM NHÀ GS TRẦN VĂN KHÊ VÀ ĂN TỐI Ở NHÀ GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG
Hôm nay, 24 tháng Giêng năm 2010, nhân chuyến công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi và Thạc sĩ Chu Tuyết Lan (cựu GĐ Thư viện Viện Hán Nôm) đã vinh dự được ghé thăm nhà riêng GS Trần Văn Khê. 14h15 máy bay hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất, người bạn là GĐ doanh nghiệp Cao Lầu (Q. Thủ Đức) đã cho xe đón và đưa chúng tôi về khách sạn rồi đưa đến nhà GS Trần Văn Khê.
.

.
Ngôi nhà của GS Trần Văn Khê ở số 32 Huỳnh Đình Hai, Phường 24 quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh. Đây vốn là một biệt thự cũ, nằm trên khuôn viên 600 mét vuông, do chính quyền Thành phố tặng GS Trần Văn Khê - người đã cả đời cống hiến và quảng bá cho văn hóa và âm nhạc Việt Nam trên khắp thế giới.

GS Trần Văn Khê đã về ở tại đây từ năm 2005. Và ông cho biết, sau này khi ông qua đời, đây sẽ là nhà lưu niệm Trần Văn Khê, và là nơi mà những người yêu âm nhạc có thể đến đọc sách, nghe và xem tư liệu về văn hóa và âm nhạc mà GS đã đưa từ Pháp về sau cả một đời tích góp và sưu tập từ khắp nơi trên thế giới.


GS Trần Văn Khê và Nguyễn Xuân Diện


GS Trần Văn Khê và Thạc sĩ Chu Tuyết Lan

GS Trần Văn Khê nói với người giúp việc đưa chúng tôi đi thăm toàn bộ khu nhà: Thư viện sách báo, thư viện băng đĩa, bếp, phòng ăn và phòng tiếp khách - trưng bày nhạc cụ.


Phòng khách và trưng bày nhạc cụ


Phòng lưu trữ băng từ của GS Trần Văn Khê được bảo quản trong chế độ lạnh đặc biệt


Thư viện sách báo


Một giá sách nhỏ trong phòng riêng của GS Trần Văn Khê

Đúng như đã hò hẹn từ cả tuần nay, sau đó chúng tôi cùng đi taxi Mai Linh đến nhà GS Nguyễn Đăng Hưng để dùng bữa cơm tối, đàm đạo về văn chương và âm nhạc và tất nhiên sẽ cùng nhau đàn hát. Lúc ấy là 5h chiều.

GS Nguyễn Đăng Hưng là một nhà khoa học lớn, hiện công tác tại Vương Quốc Bỉ, được biết đến như một người đã dành toàn bộ tài năng và tâm huyết để cống hiến cho sự nghiệp đào tạo cán bộ khoa học cho đất nước. Tôi đã được nghe danh ông đã lâu, đã đọc các bài viết và trả lời PV của ông trên các báo chí, và cũng đã thưởng thức các tác phẩm âm nhạc của ông; nhưng đến hôm nay mới vinh dự được gặp ông tại thành phố mang tên Bác Hồ.


GS. Nguyễn Đăng Hưng đón khách. Cận cảnh: Nhà biên khảo Thái Doãn Hiểu và Nguyễn Xuân Diện


GS. Nguyễn Đăng Hưng và Thạc sĩ Chu Tuyết Lan


GS Nguyễn Đăng Hưng, GS Trần Văn Khê và Nguyễn Xuân Diện


GS. Nguyễn Đăng Hưng ôm đàn và hát các bài hát bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Ông chơi đàn với phong cách của một nghệ sỹ thực thụ khiến tất cả mọi người đều hết sức ngạc nhiên.


Bữa cơm chiều trong nhà GS Nguyễn Đăng Hưng


GS Trần Văn Khê (89 tuổi) và GS Nguyễn Đăng Hưng (70 tuổi). Một người âm nhạc. Một người khoa học kỹ thuật. Một người nhẹ nhàng lịch lãm. Một người sôi nổi nồng nhiệt. Hai GS rất trân trọng và ngưỡng mộ sự nghiệp và nhân cách của nhau.


Từ phải sang: Bà Hoàng Liên và phu quân nhà biên khảo Thái Doãn Hiểu, GS Khê và Thạc sĩ Chu Tuyết Lan
.
Sau khi GS Nguyễn Đăng Hưng hát các bài hát do GS sáng tác, là đến phần trình bày ca trù của Nguyễn Xuân Diện. GS. Trần Văn Khê nói về Ca trù và về "Chữ nhạc" của âm nhạc Việt Nam, về sự khác nhau giữa âm nhạc Việt Nam và Trung Quốc với minh họa sâu sắc và độc đáo. Nhà biên khảo Thái Doãn Hiểu đọc bài thơ ông sáng tác bên mộ cụ Nguyễn Du. Sau cùng, đã hơn 10h đêm, Nguyễn Xuân Diện ngâm bài thơ Tạm biệt để cảm ơn thịnh tình của chủ nhà và từ biệt GS Nguyễn Đăng Hưng.
.
Ngay trong buổi chiều đầu tiên đến Saigon, đã được đến thăm nhà hai GS danh tiếng của thế giới, đối với tôi là một vinh hạnh lớn lao. Và ngay trong lần đầu gặp mặt, GS Hưng đã mời cơm chiều và thưởng thức các tác phẩm âm nhạc của ông ngay trong căn nhà của ông với tình thân như đã quen nhau từ lâu, với tôi lại càng là một điều vô cùng may mắn và vinh hạnh.
.
Xe taxi Mai Linh lại đưa GS Trần Văn Khê về đến nhà lúc 11h. Cả lúc đi và về, GS Trần Văn Khê đều dành phần thanh toán tiền taxi bằng thẻ. Hãng taxi Mai Linh vì lòng trân trọng và ngưỡng mộ một nhà văn hóa lớn của đất nước đã tặng một chiếc thẻ để được phục vụ miễn phí GS Trần Văn Khê đi lại trong thành phố bất kỳ giờ giấc nào.
Tp Hồ Chí Minh đêm 24.1.2010

CHÂM NGÔN SỐNG VÀ VIẾT

Tôi viết phê bình là để làm sáng giá và sang giá tác giả, tác phẩm văn học.

HOÀNG NGỌC HIẾN

Mỗi ngày gặp một người, họ là mảnh của thiên tài nhân loại. Hãy nhặt những chữ của đời mà viết nên trang.

CHẾ LAN VIÊN

Sở dĩ tôi nhìn được xa trông được rộng là bởi tôi đứng trên vai những người khổng lồ.

NIU TƠN